Hiển thị các bài đăng có nhãn 05.Kinh doanh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn 05.Kinh doanh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 3 tháng 1, 2011

Xem phim "AVATAR" - Một vài suy nghĩ về năng lực lãnh đạo


Một cảnh trong phim Avatar

Jessica Lu - Tổng giám đốc công ty tư vấn quản trị nhân sự Towers Watson Việt nam

Là một người mê phim ảnh, bộ phim Avatar nằm trong danh sách "phải xem" của tôi. Mặc dù cốt truyện có phần đơn giản và không có gì mới, nhưng do kỹ thuật hiện đại và hình ảnh sống động trong phim làm cho ai nấy đều phải thốt lên "Wow" khi xem đến những cảnh đánh nhau dữ dội hoặc những giây phút lãng mạn ngọt ngào. Bộ phim là sự phản ảnh sâu sắc chính sách đối ngoại của một số nước trong thời đại hiện nay, đưa ra thông điệp rõ ràng về các vấn đề môi trường, đồng thời đem lại nhận thức sâu sắc về tâm hồn.

Tôi tin rằng mọi người đều thích thú khi xem Avatar và nhận ra được giá trị của nó dưới nhiều góc cạnh khác nhau. Đối với tôi, bộ phim mang lại những minh chứng về hành vi cốt lõi của một người lãnh đạo trong mỗi tổ chức.

Gần đây, tôi thường hay được mời phát biểu về đề tài lãnh đạo hoặc hướng dẫn nhiều hội thảo về "Phát triển Lãnh đạo" - đề tài nóng bỏng nhất về Quản lý Nhân sự hiện nay. Tôi vẫn thường trăn trở về việc làm thế nào chuyển tải được ý nghĩa của từ "Lãnh đạo" và nêu được trọng tâm mà mọi nỗ lực cần phải dồn vào để phát triển năng lực "Lãnh đạo" thực tiễn trong một tổ chức. Sau khi xem xong phim Avatar, cái nhìn của tôi trở nên rõ ràng hơn.

Jack Sully, người hùng trong Avatar, là điển hình của một nhà lãnh đạo trong thời hiện đại. Jack và phiên bản chứa DNA của của anh đã giúp người Na'vi trên hành tinh Pandora đánh bại "đội quân của những người từ trên trời" (lực lượng Mỹ) để cứu quê hương họ. Không có gì phủ nhận được rằng Jack là nhà lãnh đạo thực sự, dẫn dắt cả một cộng đồng đạt được mục tiêu chung. Xuyên suốt hành trình của anh trong cuộc phiêu lưu này, tôi nhận ra được sáu năng lực tiêu biểu của một nhà lãnh đạo thành công đích thực.

1. Là một thành viên trong cộng đồng

Jack phải trải qua một quá trình rèn luyện cam go để thấu hiểu được người dân Na'vi suy nghĩ, hành động như thế nào, để có được kỹ năng và phẩm chất của một người thợ săn mà nhờ đó, anh chiếm được lòng tin và được chấp nhận là một thành viên của bộ tộc. Như vậy, điều hiển nhiên ở đây là một nhà lãnh đạo phải luôn là một thành viên của cộng đồng, cùng làm việc TRONG cộng đồng đó, tạo ra những giá trị từ công việc của mình để có lòng tin của mọi người. Một nhà lãnh đạo chân chính không Ở TRÊN cộng đồng nhờ vào quyền lực mình có.

2. Làm việc để đạt được mục tiêu chung, không phải vì lợi ích cá nhân

Jack liều mình nhiều lần để chiến đấu kiên cường cho bộ tộc Na'vi. Mục tiêu của anh luôn luôn là bảo vệ công đồng mà không màng đến lợi ích riêng tư. Nếu một người dẫn dắt người khác hướng đến việc phục vụ cho bản thân mình, thì đó chỉ là thao túng. Ngược lại, làm việc vì mục tiêu chung của cộng đồng sẽ giữ vững được tinh thần vì cộng đồng, ngay cả trong khủng hoảng hay nguy biến.

3. Gặt hái sự tín nhiệm qua việc thực thi được nhiệm vụ với thành quả phi thường

Trong nguy biến, con đường duy nhất để Jack có thể lôi cuốn được sự chú ý, được người dân Na'vi tôn trọng và đặt niềm tin vào anh là việc cưỡi con chim Totuk khổng lồ. Đây là điều không ai khác trong bộ tôc này làm được. Điều này chứng tỏ không phải là chức vụ kèm theo quyền lực tạo nên được sự tín nhiệm, mà chính những công việc người lãnh đạo thực hiện được mọi người chứng kiến sẽ làm cho họ tin theo.

4. Diễn đạt và thuyết phục

Jack không những thuyết phục được người Na'vi qua những lời đầy cảm hứng của anh để họ thêm can đảm, tự tin chiến đấu chống lại kẻ thù, anh còn mở đường cho sự hợp lực của nhiều thị tộc trong cuộc chiến đấu đó. Hiển nhiên, một nhà lãnh đạo cần phải diễn đạt được tầm nhìn và quyền lợi, rồi trình bày chúng theo một cách thật mạnh mẽ để thuyết phục người nghe sẵn sàng hành động.

5. Suy nghĩ theo chiến lược hợp lý

Jack hiếu thấu đáo mọi tình huống nhờ vào vai trò bên trong lực lượng quân đội của anh. Điều này cho phép anh thấy được toàn cảnh và suy nghĩ theo một chiến lược hợp lý, do đó anh có thể tự tin dẫn dắt người Na'vi chuẩn bị cho cuộc chiến tranh tự vệ của họ. Trong tình huống hoạt động của một tổ chức ngày nay, nhà lãnh đạo cần chứng tỏ được khả năng nắm giữ những thông tin trí tuệ được cập nhật của mình và chiến lược sử dụng chúng đầy sáng tạo ra sao. Một nhà lãnh đạo cũng phải là một "người đọc" thường xuyên.

6. Thông tin và tiếp nhận thông tin một cách thường xuyên

Nhờ có kỹ thuật hiện đại của con người, Jack có thể sử dụng được nhiều thiết bị truyền thông để trao đổi với nhiều nhân vật chủ chốt trong đội ngũ của anh suốt quá trình chiến đấu. Anh cũng phân công, hướng dẫn một số nhiệm vụ cũng như đưa ra cảnh báo và khuyến khích tùy theo tình huống. Việc này chứng tỏ thông tin liên lạc thường xuyên là một công cụ rất hữu ích cho người lãnh đạo trong mọi tình huống.

Bộ phim Avatar đã chứng tỏ được rằng Lãnh đạo không phải là điều gì mơ hồ. Sự lãnh đạo mang tính thực tiễn và khả năng lãnh đạo có thể phát triển được khi đặt trọng tâm vào sáu hành vi nêu trên. Những nhà lãnh đạo hiện nay cần chứng tỏ tốt sáu khả năng trên để đạt được lòng tin, kính trọng và trung thành của những người theo họ, và nhờ vậy, họ xây dựng được một đội ngũ lấy kết quả công việc làm trọng tâm.

Tôi thật sự tin rằng với trọng tâm như thế, tổ chức của bạn có thể xác định và phát triển Jack cho tổ chức của mình và bản thân bạn cũng có thể là Jack!

Mời bạn cùng theo dõi bộ phim "AVATAR"

Avatar (P1)


Avatar (P2)


Avatar (P3)


Avatar (P4)


Avatar (P5)


Avatar (P6)


Avatar (P7)


Avatar (P8)


Chủ Nhật, 29 tháng 8, 2010

Các quốc gia đang phát triển có thể vượt các nước giàu trong 20 năm tới ?

Ngày 16/06/2010, Tổ Chức Hợp Tác và Phát Triển Kinh Tế (OCDE/OECD) đã công bố một bản báo cáo về triển vọng kinh tế thế giới mang tựa đề ‘’Viễn ảnh Phát triển Toàn cầu : sự chuyển dịch của nền thịnh vượng’’. Theo ghi nhận của OCDE, thế giới đang chứng kiến một sự thay đổi lớn trong trật tự kinh tế toàn cầu, với phần đóng góp ngày càng lớn của các nước đang phát triển, mà các nhà kinh tế xem là đầu tàu hiện đang kéo kinh tế thế giới đi lên.


© OECD



Theo dự báo của Quỹ Tiền Tệ Quốc tế FMI, đưa ra vào tháng 4/2010, tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2010, sẽ đạt tỷ lệ bình quân 4,2%. Tính riêng từng khu vực, thì tại vùng Châu Âu sử dụng đồng euro, tăng trưởng chỉ là 1%. Hoa Kỳ khá hơn một chút với 3,1%. Trong lúc đó thì Châu Á đạt 8,7%, với đầu tàu là Trung Quốc, có tỷ lệ 10%. Ấn Độ không kém với 8,8%. Brazil, một quốc gia đang vươn lên khác cũng đạt 5,5%. Theo Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế, tăng trưởng tại các nước đang vươn lên này sẽ là động cơ, giúp các quốc gia giàu có vực dây nền kinh tế của mình.

Quả là có một sự đổi vai. nhưng tổ chức OCDE, tỏ ra rất lạc quan về triển vọng sắp tới của các quốc gia đang phát triển và đang vươn lên, thường được gọi chung là ‘’phương Nam’’. Khối nước này không chỉ bắt kịp các quốc gia đã phát triển, mà vào năm 2030, tức là trong 20 năm tới đây, còn sẽ vượt qua các nước phương Bắc, và chiếm một tỷ trọng đến gần 60% sản lượng toàn cầu, trong lúc mà toàn bộ số hơn 30 quốc gia thành viên giàu có của tổ chức OCDE, vào thời điểm đó chỉ còn chiếm được hơn 40%.

Tỷ lệ kể trên đã đảo ngược hoàn toàn so với cách đây 10 năm, khi các quốc gia giàu có còn chiếm 60%, tổng sản lượng toàn cầu. Đà suy giảm của khối nước phương Bắc tuy nhiên đã khởi sự, và đến năm 2010, tỷ trọng các quốc gia công nghiệp phát triển đã tuột xuống còn 51%. Trong trật tự thế giới mới do OCDE phác họa, trao đổi giữa các quốc gia phương Nam với nhau sẽ gia tăng, và trở thành một trong những động lực chính thúc đẩy tăng trưởng toàn cầu trong thập niên tới đây.

Về mức sống người dân, theo bản báo cáo, hiện nay một số quốc gia đang phát triển cũng đã bắt kịp mức sống các quốc gia giàu. Tuy nhiên OCDE cũng gợi lên một số điểm đen trong viễn ảnh lạc quan của mình : đó là sự chênh lệch phát triển giữa các quốc gia phương Nam với nhau và nhất là khoảng cách giàu nghèo càng lúc càng sâu thêm trong từng nước. Trong tình hình đó, OCDE khuyến cáo các nước phương Nam là nên nhanh chóng thực hiện các chính sách xã hội để giảm bớt các khó khăn nẩy sinh.

Vấn đề đặt ra là viễn ảnh mà tổ chức OCDE phác họa có thật sự sẽ hoàn toàn tốt đẹp như thế hay không. Trả lời phỏng vấn RFI sau đây, kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghiã tại California, tỏ ra thận trọng, và nêu một số yếu tố mà các quốc gia Phương Nam còn thiếu và có thể ngăn cản bước tiến của các nước này, trong đó có cả những vấn đề phi kinh tế như trí tuệ và dân chủ.

RFI : Tổ chức Hợp tác và Phát triển OCDE đã công bố phúc trình về "Viễn ảnh Phát triển Toàn cầu" với nội dung tập trung vào những thay đổi lớn về sự giàu có trên thXế giới trong vòng hai chục năm tới. Thưa anh, xưa nay, người ta nói đến một ranh giới Nam-Bắc của phát triển, theo đó, các nước ở Bắc bán cầu đã công nghiệp hoá trước tiên, và trở thành giàu có nhất so sánh với các nước ở Nam bán cầu. Bây giờ, theo dự báo của OCDE thì người ta đang thấy ra một trật tự mới của kinh tế thế giới, với các nước miền Nam sẽ đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn. Cụ thể thì nay đang ở trong tình trạng ngang ngửa, chứ 20 năm tới sẽ vượt qua các nước công nghiệp hoá ở miền Bắc và sẽ giao dịch mua bán với nhau nhiều hơn nên sẽ làm chủ một lượng tài sản lớn hơn của địa cầu. và nhất là thị trường tiêu thụ to lớn của họ có khả năng đảy lượng giao dịch với các nước phát triển mạnh hơn và giúp các nước này ra khỏi khủng hoảng kinh tế. Anh nghĩ sao về những kết luận trên ?

Nguyễn Xuân Nghĩa : Người ta căn cứ trên những thành quả kinh tế trong 20 năm vừa qua, tức là từ đầu thập niên 90 cho đến cuối năm 2008, để đưa ra một cái dự phóng cho tương lai.
Căn cứ trên kết quả trong 20 năm qua thì ta thấy rằng các nước gọi là đang phát triển có tốc độ phát triển cao hơn, có sản lượng công nghiệp cao hơn, và họ buôn bán giao dịch với nhau nhiều hơn. Thành ra mức sống của dân cư tại những nơi đó cũng cải thiện, cụ thể là có cỡ chừng 500 triệu người thuộc loại bần cùng, tức là bình quân lợi tức chỉ có 1 đô la một ngày chẳng hạn, thì đã ra khỏi cái sự nghèo khổ đó.

Đa số thành phần đó nằm ở Trung Quốc. Và vì lợi tức gia tăng ở các nước đó mà người ta tin rằng và người ta cũng mong rằng là khả năng tiêu thụ cao hơn của các nước đang phát triển, có thể giúp cho các nước giàu có đang bị đình trệ kinh tế sẽ có một thị trường xuất cảng nhiều hơn. Và như vậy, vì thị trường tiêu thụ nội điạ của các nước đang phát triển có thể còn gia tăng theo mức lợi tức dân cư của họ mà họ nghĩ rằng có thể thế giới đang có một sự xoay chuyển lớn.

Trước đây, các nước công nghiệp thường nhập cảng nhiều, tiết kiệm ít và đà tăng trưởng thấp, và trong khi đó thì các nước nghèo, họ cố ra công xuất cảng nhiều, và có tốc độ tăng trưởng cao hơn. Bây giờ thì nó có thể sẽ đưa đến một tình trạng gọi là tái quân bình lại luồng giao dịch giữa các nước với nhau và các nước nghèo có thể sẽ mua hàng của các nước giàu nhiều hơn và nhờ đó mà có thể kéo các nước Âu Mỹ, kể cả Nhật Bản, ra khỏi tình trạng đình trệ vừa rồi.

Tôi nghĩ đấy là một cái mặt gọi là tích cực mà bản thân tôi cho là quá lạc quan của những cái nhận định đó.

RFI: Tại sao anh lại cho là nhận định đó quá lạc quan ?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi sẽ làm thính giả giật mình, thậm chí khó chịu, nếu nói rằng chúng ta đang chứng kiến một hài kịch có nhiều cảnh nhiều màn của kinh tế thế giới.

- Thứ nhất, Tổ chức Hợp tác và Phát triển OCDE chủ yếu chỉ là một trung tâm nghiên cứu, được hình thành từ sau Thế chiến II bởi các nước kỹ nghệ hoá thuộc Bắc bán cầu, đa số tại Âu châu. Trong số 34 hội viên hiện hành có hơn hai tá là các nước Âu châu và trong các nước Âu châu ấy, chừng mươi quốc gia đang gặp nhiều vấn đề kinh tế, thậm chí bị nguy cơ khủng hoảng. Tôi không tin là OCDE đã tiên báo được mức độ trầm trọng của vụ khủng hoảng ở ngay tại sân nhà là Âu châu nếu ta đọc lại báo cáo của tổ chức này về nạn tổng suy trầm vừa qua.

- Cũng vì vậy, và đây là yếu tố thứ hai, họ dễ chột dạ về sự suy sụp của mình và dự báo chu kỳ thịnh vượng của các nước mới phát triển, trong đó có các nước tôi xin gọi là "tân hưng", tức là mới nổi, và các nước vừa chập chững bước vào giai đoạn phát triển. Hiện tượng này cũng giống như sự lạc quan của các định chế quốc tế khi nói về phép lạ kinh tế Đông Á ngay trước khi Đông Á bị khủng hoảng thời 1997-1998. Họ nhìn vào kính chiếu hậu, là dựa vào những dữ kiện kinh tế của quá khứ, như tốc độ tăng trưởng hoặc lượng hàng giao dịch của ngoại thương, để từ đó vạch ra đường tuyến cho tương lai trước mắt. Rồi kết luận rằng thế giới đang bước qua một trật tự mới với sức nặng của các nước đang phát triển.

- Thực tế thì các nước đi sau đều học được kinh nghiệm của các nước đi trước cho nên có thể đốt giai đoạn và khi bắt đầu bước vào chu kỳ phát triển thì đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn. Sau đó, thì họ cũng lại chậm nhịp phát triển khi bước vào giai đoạn trưởng thành như các nước kia. Tuy nhiên, khác với các nước kỹ nghệ hoá đã trước tiên dân chủ hóa và có ý thức xã hội cao độ, các nước đi sau lại không được như vậy! May là phúc trình của OCDE có cảnh báo điều ấy khi nhấ mạnh tới sự bất công tiềm ẩn trong đà tăng trưởng....

RFI: Đúng là anh hay có thói quen xối nước lạnh! Báo cáo của tổ chức OCDE có nói đến thành tích xoá đói giảm nghèo trong các nước đang phát triển và còn nêu ra một con số thực tế là các quốc gia này đang nắm giữ một lượng dự trữ ngoai tệ lớn hơn các nước gọi là giàu có. Trong khi ấy, ta thấy là các nước giàu có này giờ đây đang mắc nợ, từ Nhật Bản, Hoa Kỳ về tới nhiều nước Âu Châu. Anh không cho rằng đó là thành tích đáng kể và tiềm lực đáng tin sao ?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Báo cáo của OCDE tập trung vào thời khoảng hai chục năm qua, từ 1990 là khi Chiến tranh lạnh kết thúc đến 2008 là khi thế giới bị trận tổng suy trầm toàn cầu. Từ đó, họ vạch đường tuyến tương tự cho tương lai hai chục năm tới và vẽ ra triển vọng màu hồng cho các nước đang phát triển. Tôi thiển nghĩ là sự thật lại không lạc quan như vậy vì nhiều lý do.

- Thứ nhất, chính là nguyên lý kinh tế tự do và chính trị dân chủ của các xứ kỹ nghệ hoá, chủ yếu là Âu-Mỹ, đã lấy trớn phát triển cho các nước nghèo trong 60 năm vừa qua. Nhờ vậy mà dân số các nước nghèo đã tăng mạnh và tương đối có kiến năng cao hơn thế hệ trước. Trong khi ấy, các nước công nghiệp hoá - ngoại lệ là Hoa Kỳ nhờ chính sách di dân - lại thấy dân số co cụm dần, bị lão hoá, và ảnh hưởng tới năng suất. Nhờ đầu tư nhiều hơn và có dân số đông hơn - khoảng một tỷ rưỡi người đi vào thị trường lao động - các nước nghèo có thể đạt tốc độ tăng trưởng cao trong mấy chục năm liền. Nhưng khi họ bớt nghèo đi thì đà gia tăng dân số ấy cũng sẽ giảm, là chuyện ta bắt đầu thấy tại Trung Quốc. Và đà tăng trưởng cũng vậy.

- Thứ hai, nói về tài sản hay cụ thể là dự trữ ngoại tệ, ta không quên loại tài sản vô hình mà lại là then chốt cho phát triển và năng suất. Là kiến năng, kiến thức và khả năng. Các xứ tân hưng hay đang phát triển có thể nắm giữ một khối dự trữ ngoại tệ trị giá hơn 4.000 tỷ Mỹ kim hay ngoại tệ mạnh khác của các nước giàu. Nhưng họ làm chủ bao nhiêu bằng sáng chế trên thế giới? So với Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức hay thậm chí Nam Hàn, thì dự trữ về trí tuệ của các nước này không đáng kể. Nếu không đầu tư vào giáo dục và đào tạo để nâng cấp về trình độ sản xuất thì các nước này chỉ sao chép sáng kiến của Bắc bán cầu và bán hàng cho nhau với giá trị gia tăng thật ra cũng không cao. Thế giới bị mê hoặc bởi các doanh nghiệp Ấn Độ hay Trung Quốc đã đầu tư vào thị trường Âu-Mỹ, nào mua hãng xe hơi xứ này, mua công ty điện toán xứ kia, nhưng nếu tương lai các nước tân hưng này quả là sáng láng như vậy vì sao họ không đầu tư vào khu vực nội địa lạc hậu của họ để nâng mức sống và phẩm chất của đời sống cho cả tỷ dân của họ?

- Thứ ba và đây là yếu tố bi quan nhất, đó là những dị biệt quá lớn về lợi tức, nhận thức và quyền lợi của các nước tân hưng hay đang phát triển với nhau. Ngược với suy luận lạc quan của nhiều người, tôi trộm nghĩ rằng các nước càng buôn bán giao dịch với nhau thì tranh chấp về quyền lợi càng dễ xảy ra. Đó là kinh nghiệm của Âu châu vào đầu thế kỷ trước. Cũng do kinh nghiệm đắt đỏ ấy mà Âu châu trở thành dân chủ và hiếu hoà hơn ngay trong trường cạnh tranh kinh tế. Các nước đang phát triển chưa tiến tới giai đoạn ấy và mâu thuẫn của họ với nhau vẫn có thể xảy ra và càng dễ xảy ra trong lãnh vực kinh tế vì những chuyển dịch của sự giàu có. Bất ổn đó có thể làm gãy đường tuyến lạc quan của tổ chức OCDE! Xin nhắc lại là sau Thế chiến thứ nhất, năm 1920, không ai ở Âu châu có thể tin là Âu châu sẽ lại gặp đại chiến trong vòng 20 năm tới...

Mai Vân (RFI)

Thứ Tư, 11 tháng 8, 2010

Dám thất bại



Tên sách: Dám Thất Bại - Dare To Fail
Tên tác giả: Billi P.S Lim
Tên dịch giả: Trần Hạo Nhiên
Năm xuất bản: 2008

Giới thiệu về nội dung

Chúng ta thường nghe cũng như đọc nhiều về gương thành công, về những vĩ nhân. Chúng ta thường không thích nói về thất bại, như thể chúng ta đã được lập trình để tránh thất bại... Lẽ nào thất bại chẳng có chút giá trị nào sao?

Quyển sách này đề cập đến một mặt khác của thành công. Đó là một phương diện chúng ta cần thật sự học hỏi. Đối với những ai đã từng cố gắng và đã từng thất bại, quyển sách này đứng về phía bạn.

Dám thất bại, bạn sẽ thành công sau này...

So với những người thất bại, những người thành công thật sự đã thất bại nhiều lần hơn, chỉ đơn giản là vì họ đã cố gắng nhiều lần hơn!

Mục lục:

Chương 1: Thời thơ ấu
Chương 2: Những ngày ở trung học
Chương 3: Và công ty của chúng tôi được sáng lập
Chương 4: Trở lại làm công cho người khác
Chương 5:Thất bại
Chương 6: Giá trị của thất bại
Chương 7: Nỗi sợ hãi của thất bại
Chương 8: Thất bại trong các quan hệ tình cảm
Chương 9: Các hậu quả của sự thất bại trong xã hội chúng ta
Chương 10: Nỗi sợ hãi không kiếm được việc làm
Chương 11: Nỗi sợ mình quá già để thành công
Chương 12: Sợ không đạt kết quả
Chương 13: Các đau đớn, rắc rối, khó khăn và đau khổ
Chương 14: Làm gì để đối mặt với thất bại?
Chương 15: Khi tất cả đều thất bại
Chương 16: Bạn sẽ làm gì nếu bạn không thể thất bại?

Sau khi đọc xong quyển sách này, bạn có thể sẽ giống như chim phượng hoàng sống lại từ đống tàn tro ! Mời các bạn nghe đọc quyển sách rất hay này .

1/Chương 1, 2, 3



2/Chương 4, 5



3/Chương 6



4/Chương 7



5/Chương 8, 9



6/Chương 10, 11



7/Chương 12



8/Chương 13



9/Chương 14 (Phần 1)



10/Chương 14 (Phần 2)



11/Chương 15, 16



Thứ Tư, 21 tháng 7, 2010

Ham việc làm giảm tuổi thọ

Làm việc quá nhiều làm tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch, một trong những "sát thủ" hàng đầu đối với loài người.



Livescience cho biết, các nhà khoa học của Viện Sức khỏe nghề nghiệp Phần Lan theo dõi 6.014 người lao động trong 20 cơ quan nhà nước tại London, Anh. Những người này có độ tuổi từ 35 tới 55. Quá trình theo dõi diễn ra trong hơn 11 năm. Các chuyên gia liên tục cập nhật thông tin về thời gian làm việc trung bình trong ngày, số lần nghỉ giải lao trong buổi làm việc.

Kết quả cho thấy, những người làm việc nhiều hơn 10 tiếng mỗi ngày có nguy cơ mắc các bệnh tim mạch cao hơn 60% so với những người làm việc ít hơn. Tỷ lệ này không thay đổi sau khi nhóm nghiên cứu loại trừ những yếu tố khác có thể gây nên bệnh tim, như hút thuốc lá, lười vận động, lượng mỡ máu cao, béo phì.

Tiến sĩ Marianna Virtanen, chuyên gia về bệnh dịch và là trưởng nhóm nghiên cứu, nói rằng trong số 6.014 đối tượng mà họ theo dõi có 369 người mắc bệnh tim.

Sau khi tính toán các nhân tố như giới tính, tính chất công việc, tình trạng hôn nhân, tuổi tác, Virtanen và các cộng sự nhận thấy người làm việc quá giờ từ 3 tới 4 tiếng trở lên có nguy cơ mắc bệnh mạch vành cao hơn so với mức trung bình của xã hội. Họ giải thích mối quan hệ giữa làm việc quá nhiều với nguy cơ mắc bệnh tim như sau:

Những người hay làm việc quá giờ thường có tính cách loại A. Đặc trưng của những người có tính cách loại A là thích cạnh tranh, dễ nổi nóng, dễ thù oán người khác, thường rơi vào trạng thái căng thẳng. Đó là những nhân tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch.

Huyết áp của người lao động tăng lên khi họ làm việc quá giờ, nhưng hiện tượng đó không thể hiện trong những lần khám bệnh nên họ không biết.

Người thích làm việc quá giờ sẵn sàng tới công sở ngay cả khi họ bị ốm hay gặp những vấn đề về sức khỏe.

Tình trạng căng thẳng kinh niên do làm việc nhiều có thể tác động xấu tới quá trình trao đổi chất bên trong cơ thể người, khiến tim dễ bị tổn thương hơn.

Virtanen nhấn mạnh rằng đối tượng nghiên cứu chỉ là những người làm việc văn phòng, không có người lao động chân tay nên chưa thể nói kết quả nghiên cứu có thể áp dụng cho toàn bộ xã hội. Ông cho rằng các nhà khoa học cần phải tiến hành nghiên cứu tương tự đối với những người lao động chân tay.

Minh Long

Thứ Ba, 20 tháng 7, 2010

12 yếu tố giúp làm giàu



Một khát vọng bỏng cháy luôn là xuất phát điểm cho mọi thành công. Bạn có khát khao cháy bỏng không? Hay bạn đã từng có một niềm khao khát bỏng cháy về điều gì? Xin hãy nhớ rằng cuộc đời của những người thành đạt nhất luôn là một chuỗi những khao khát, đam mê và thực hiện tất cả.

Ai cũng muốn làm giàu nhưng không phải ai cũng có thể làm giàu. Dưới đây là 12 yếu tố giúp bạn thực hiện được mong muốn của mình.

1. Khát vọng: Một khát vọng bỏng cháy luôn là xuất phát điểm cho mọi thành công. Bạn có khát khao cháy bỏng không? Hay bạn đã từng có một niềm khao khát bỏng cháy về điều gì?. Xin hãy nhớ rằng cuộc đời của những người thành đạt nhất luôn là một chuỗi những khao khát, đam mê và thực hiện tất cả.

2. Niềm tin: Trong tình huống này, niềm tin là hình dung về những khát khao của bạn và tin tưởng rằng bạn sẽ giành được nó.

3. Tự ám thị: Ngày nay, chúng ta gọi ý niệm này là “sự quả quyết”. Đây là thói quen khi một chuỗi những ý nghĩ mang tính quả quyết ảnh hưởng đến tiềm thức của bạn. Một sự khẳng định thường ở thì hiện tại, thậm chí ngay cả khi bạn vẫn chưa có được nó. Nếu mục tiêu của bạn là tạo nên một công việc kinh doanh trị giá hàng triệu đô la, thì sự quả quyết sẽ là “Tôi đang trong quá trình xây dựng một sự nghiệp hàng triệu đô la”. Còn khi kế hoạch của bạn đã trở nên rõ ràng hơn thì bạn sẽ nói “Tôi đang sở hữu việc kinh doanh hàng triệu đô la”.

4. Kiến thức chuyên ngành: Những người theo đuổi sự am tường và khả năng chuyên nghiệp ở một lĩnh vực nào đó thường tự tin hơn, thành thạo hơn và có cơ hội thành công nhiều hơn. Bạn tiếp tục sự nghiệp học hành về chuyên môn của mình như thế nào?.

5. Tưởng tượng: Trước khi bắt đầu một ngày, hãy nghĩ về những cách khác nhau giúp bạn thực hiện công việc tốt hơn.

6. Tổ chức kế hoạch: Mọi mục tiêu đều cần một kế hoạch. Khi bạn đã có một kế hoạch, bạn luôn biết cần phải làm điều gì tiếp theo.

7. Quyết định: Những người thành đạt luôn có khả năng ra quyết định một cách nhanh chóng và thay đổi nó một cách chậm rãi. Không phải kết quả làm cho một quyết định là tốt hay xấu mà chính là quá trình đưa ra quyết định đó. Cách thức bạn đưa ra quyết định là cách tốt nhất để chế ngự được sự chần chừ trong bạn.

8. Kiên định: Đừng bao giờ từ bỏ! Và đừng nhận lấy một kết quả không có gì cả. Thay vào đó, hãy tìm một con đường để vượt qua chướng ngại vật của bạn. Điều này sẽ mang chúng ta trở lại với sự sáng tạo.

9. Quân sư: Đội ngũ quân sư là một nhóm những người tập hợp lại, cùng nhau cống hiến vì một mục tiêu chung. Sự cố vấn giúp lôi kéo được mọi người tập trung vào buổi thảo luận và vận dụng trí tuệ để giải quyết những vấn đề khác. Một cách điển hình, việc đưa ra những vấn đề còn tranh cãi có tính gần gũi có thể tạo nên mối liên hệ về mặt kinh doanh, nhưng quá trình cố vấn lại có thể được dùng để giải quyết bất cứ tình huống khó khăn, dự án hay vấn đề về kinh nghiệm nào. Sự cố vẫn luôn hữu ích bởi dù sao năm cái đầu thì vẫn tốt hơn một cái đầu. Ngoài ra, quá trình này còn giúp chúng ta chia sẻ hỉểu biết và kinh nghiệm.

10. Tiềm thức: Hãy sử dụng tiềm thức của bạn để hình dung ra tương lai mà bạn mong muốn đạt được. Và hãy đi theo những linh cảm- những thông điệp mà bạn nhận được từ trong tiềm thức của mình.

11. Trí tuệ: Bạn đã sử dụng bao nhiêu phần trăm tiềm năng trí tuệ của mình? Tối đa hóa sức mạnh trí tuệ của bạn có nghĩa là suy nghĩ kĩ về vấn đề của bạn thay vì phản ứng lại nó một cách cảm tính.

12. Giác quan thứ sáu: Sau khi nắm được cả 11 yếu tố trên, bạn đã có thể bước qua cánh cửa dẫn vào Ngôi đền của sự thông thái và sử dụng giác quan thứ sáu của bạn: đó là nguồn trí tuệ vô hạn.

Theo danong.com

Thứ Sáu, 9 tháng 7, 2010

8 con đường tránh nợ trong kinh doanh



Vấn đề ở chỗ nợ nần dường như trở thành một phần tất yếu trong kinh doanh thường nhật, rất ít doanh nghiệp có thể tránh khỏi những khoản nợ phát sinh. Và theo thời gian, các khoản nợ như một “cái gai khó chịu” cần được loại bỏ khi nó làm gia tăng mức độ rủi ro kinh doanh.

Đối với nhiều doanh nhân, cụm từ "kinh doanh" và "nợ nần" luôn song hành với nhau. Trong con mắt các khách hàng cũng như các nhà đầu tư, việc không nợ nần được xem như nhân tố quan trọng nhất tạo dựng uy tín và hình ảnh đẹp của doanh nghiệp.

Trong kinh doanh ngày nay, các khoản nợ sẽ rất dễ dàng chồng chất nhanh chóng đến mức đủ để loại doanh nghiệp ra khỏi cuộc chơi trước khi kịp tìm ra giải pháp khắc phục.

Vấn đề ở chỗ nợ nần dường như trở thành một phần tất yếu trong kinh doanh thường nhật, rất ít doanh nghiệp có thể tránh khỏi những khoản nợ phát sinh. Và theo thời gian, các khoản nợ như một “cái gai khó chịu” cần được loại bỏ khi nó làm gia tăng mức độ rủi ro kinh doanh.

Tuy nhiên, khó không có nghĩa là không thể. Chắc chắn tồn tại những căn nguyên dẫn tới nợ nần kinh doanh và một khi biết rõ chúng, các doanh nghiệp hoàn toàn có khả năng tránh xa. Hãy dành thời gian để xem xét dòng tiền của doanh nghiệp và rất có thể doanh nghiệp sẽ phát hiện ra các con số chi phí xa lạ cần được loại bỏ để cải thiện sức khoẻ tài chính.

Duới đây là 8 căn nguyên dẫn tới nợ nần và khi các doanh nghiệp tránh xa được chúng, kết quả thành công là hiển nhiên.

1. Không gắn chặt với những nhân tố thiết yếu

Điểm khởi đầu thích hợp là nguyên tắc "bao gồm tất cả" và "nắm bắt tất cả". Theo đó, các chủ doanh nghiệp hãy là một người thông minh bằng việc chi tiêu tiền bạc duy nhất cho những gì thực sự cần thiết để vận hành công việc kinh doanh.

Càng ít lựa chọn ít tốn kém bao nhiêu cho việc đạt được các mục tiêu then chốt sẽ càng tốt bấy nhiêu. Và các doanh nghiệp chỉ tăng các chi phí nếu doanh thu cho phép làm như vậy.

Sau khi trải qua giai đoạn trứng nước mới khởi sự và thấy rằng các nguyên tắc này quá chặt chẽ và có phần hạn chế kinh doanh tăng trưởng, doanh nghiệp có thể từ từ nới lỏng sợi dây thừng một chút và tận hưởng không khí tự do với khoản dự trữ tiền mặt lớn hơn.

2. Làm quá nhiều thứ vào quá sớm

Nếu một doanh nghiệp bắt đầu kinh doanh chưa lâu nhưng đã nỗ lực thực hiện ngay nhiều dự án cùng một lúc, nguồn vốn hạn chế ban đầu sẽ giới hạn đáng kể thời gian và tiền bạc doanh nghiệp có thể bỏ ra cho từng dự án kinh doanh cụ thể.

Những ráng sức đó cần có sự quan tâm kỹ lưỡng và cần được nuôi dưỡng chậm chạp một cách thấu đáo nếu doanh nghiệp bạn muốn chúng được thành công. Khi doanh nghiệp cố thực hiện quá nhiều cam kết cùng lúc, tất cả sẽ kết thúc ở chỗ các dự án không thể thành công, đồng thời các chi phí bỏ ra và con số nợ nần sẽ chồng chất.

3. Không thiết kế cho khả năng mở rộng

Thành công ban đầu là rất quan trọng nhưng không tốt chút nào nếu doanh nghiệp dần bị xói mòn chính bởi sự thiếu khả năng hoạch định quy mô ban đầu lẫn những chuẩn bị kém cỏi.

Nếu thiết kế kinh doanh của doanh nghiệp không thể được mở rộng hơn khi đã trưởng thành, doanh nghiệp có thể bị buộc phải gánh chịu nhiều khoản chi phí phát sinh khi nỗ lực tái thiết kế kinh doanh.

4. Thất bại trong ủy thác

Các chủ doanh nghiệp cần nhớ rằng mình luôn là con người người của những sáng kiến. Đừng dùng quá nhiều thời gian cho những công việc có thể được thực hiện tốt bởi một người khác có mức thù lao thấp hơn.

Khi mà các chủ doanh nghiệp có thể cố gắng quản lý vi mô và gắn chặt con mắt vào từng khía cạnh của doanh nghiệp, bản thân họ không chỉ khiến mình phát điên vì sức ép công việc mà có thể kéo hoạt động kinh doanh vào rắc rối khi không thể quản lý tốt sức khoẻ tài chính chung.

5. Mua với số lượng lớn

Khi chưa là một doanh nghiệp lớn, việc lựa chọn mua một số lượng hàng hoá lớn phục vụ kế hoạch phát triển dài hạn hay dữ trự cho một thời gian dài là không thích hợp chút nào.

Doanh nghiệp bạn phải tính toán kỹ lưỡng các chi phí bỏ ra trong từng giai đoạn và sẽ cần một lượng tiền mặt nhất định luôn có sẵn tại ngân hàng. Hãy lên kế hoạch mua sắm những gì thực sự cần cho một thời gian nhất định và doanh nghiệp bạn sẽ có cơ hội tốt hơn để dự báo chính xác các cơn bão chi phí không ngờ tới.

6. Thanh toán chậm trễ các hóa đơn

Việc thanh toán chậm trễ hóa đơn sẽ dẫn tới nhiều bất lợi, không chỉ làm phát sinh các khoản nợ mà khoản nợ sẽ ngày một lớn hơn theo con số lãi suất chậm trả.

Bất cứ khi nào có thể, hãy thanh toán các hóa đơn đến hạn. Thẻ tín dụng nên được sử dụng tối đa khi mà nhiều ngân hàng cho phép một kỳ hạn nhất định không phải thanh toán lãi suất khi thanh toán tiền.

7. Quẳng các hóa đơn

Sẽ rất khó khăn cho nhiều chủ doanh nghiệp thấy được dòng tiền chi tiêu cũng như biết cách phân tách các chi phí kinh doanh với chi phí cá nhân nếu không lưu giữ đầy đủ mọi hóa đơn thanh toán.

Điều này có thể kết thúc với việc các khoản chi phí bị đội lên, cùng với đó là số thuế được khấu trừ cũng ít đi. Hãy lưu giữ cẩn thận mọi hóa đơn và doanh nghiệp bạn sẽ có nhiều thuận lợi hơn trong tính thuế cũng như tính toán chi phí.

8. Thất bại trong việc truy đòi các khoản phải thu

Hãy chắc chắn rằng doanh nghiệp của bạn là một "người đàn ông rộng lượng" trong kinh doanh, nhưng cũng rất cần thiết với việc đảm bảo rằng doanh nghiệp được thanh toán các khoản phải thu đúng hạn.

Với khác nhiều công cụ có sẵn ngày nay cho việc thông báo khách hàng thanh toán tiền hàng đến hạn, không có lời bào chữa nào cho việc doanh nghiệp để các khoản phải thu chất chồng mà không truy đòi được.

Doanh nghiệp có thể trang bị nhiều phần mềm kế toán khác nhau giúp tự động gửi hoá đơn và nhắc nhở việc thanh toán các khoản phải thu đến hạn, và thậm chí tạo điều kiện để khách hàng thanh toán qua mạng internet trực tiếp tới tài khoản ngân hàng của doanh nghiệp.

Theo dddn.com.vn

Thứ Sáu, 2 tháng 7, 2010

Nghệ thuật đòi nợ!



Chuẩn mực viết thư đã được lập ra vào thập niên 30 của thế kỷ trước. Và thời đó khác với bây giờ, đặc biệt là với thông tin văn bản.

Tình huống

Có lần, một nhóm tham gia hội thảo đã hỏi tôi:
- Thế bức thư nào có tác động nhất, theo ông?
- Có thể là bức thư như thế này: "Chào Ông. Ông đang nợ một khoản như thế này… Hãy thanh toán hết cho chúng tôi." Và ký tên.

Đương nhiên, đó là chuyện đùa thôi. Nhưng điều này chắc là sẽ có tác động đến người nhận. Bởi nó rất dữ dội.

Chuẩn mực viết thư đã được lập ra vào thập niên 30 của thế kỷ trước. Và thời đó khác với bây giờ, đặc biệt là với thông tin văn bản. Giờ đây, sau 7-10 năm, có rất nhiều văn bản buộc chúng ta phải đọc, nghĩa là mọi thứ đập vào mắt chúng ta, trên các phương tiện giao thông, phim ảnh, tivi, nói chung là những thông điệp mang tính chất quảng cáo. Và trong quảng cáo thì chỉ rặt những động từ (hãy chờ, hãy tin, hãy ăn, hãy cầm lấy…). Còn chúng ta trở nên dễ dàng lĩnh hội các văn bản ngắn gọn, cụ thể hơn là quảng cáo. Chúng ta trở nên khó lĩnh hội những văn bản dài dòng, đặc biệt là những văn bản luật. Tôi thường cảm thấy mệt mỏi và rối rắm khi đọc những văn bản như thế và không đủ kiên nhẫn để đọc hết. Càng trẻ trung bao nhiêu, con người ta càng thụ động hơn trong phản ứng với việc nhận thư từ bởi họ đang sống trong một thời đại khác – thời đại của tốc độ.

Hãy tạo ra một bức thư ngắn gọn, có nội dung và điều cơ bản là, phải kích động.



Các thể loại thư từ

Thư thứ nhất: Thăm hỏi

Trong một số trường hợp, thật có lợi nếu tạo ra bức thư đặc biệt mà với nó, bạn có thể thông báo cho khách hàng biết rằng họ đã thỏa thuận hợp tác với công ty bạn. Hãy tỏ ra vui vẻ lịch thiệp thông báo với họ rằng thời hạn thanh toán được gia hạn, mức tín dụng như thế nào… Hãy gửi những bức thư như vậy cho kế toán trưởng hoặc một người nào đó chịu trách nhiệm thanh toán khỏan nợ cho công ty bạn.

Thư thứ hai: Nhắc nhở

Các nguyên tắc chính:
1. Hãy tỏ ra thiện chí.
2. Hãy viết ngắn gọn .
3. Hãy nhắc nhở khách hàng về nội dung cơ bản của thỏa thuận.
4. Hãy để lộ rằng bạn tin tưởng khách hàng sẽ thanh toán khoản nợ.

Thư thứ ba: nhắc nợ gay gắt

Các nguyên tắc chính:
1. Hãy tỏ ra nghiêm khắc, viết ngắn gọn, nhưng cặn kẽ, súc tích.
2. Đính kèm phiếu thanh toán.
3. Nhắc lại các điều khoản hợp đồng.
4. Yêu cầu hoàn tất việc thanh toán ngay lập tức, hoặc gửi kế hoạch thanh toán (thư bảo đảm).
5. Hãy nằng nặc đòi thanh toán hoặc đòi phải trả lời bằng văn bản.

Thư thứ tư: Yêu cầu

Các nguyên tắc chính:
1. Hãy yêu cầu cụ thể và dứt khoát.
2. Hãy yêu cầu (tối thiểu) thanh toán một phần khoản nợ ngay lập tức.
3. Hãy sử dụng các công cụ gây tác động trực quan (hãy làm nổi bật bức thư của mình trong đống thu từ).
4. Nên đính kèm bản sao phiếu nợ.
5. Thông báo về ngày bắt đầu có hiệu lực của các hoạt động kiện tụng ra tòa.
6. Hãy giải thích cho khách hàng biết cách làm thế nào để tránh được kiện tụng (thanh toán ngay).

Tác dụng của chữ ký

Nếu tôi gửi cho bạn bưu thiếp chúc mừng ngày lễ vớ chữ ký là Mikhail thì điều này không trung hòa tý nào. Còn nếu tôi viết dòng "Trưởng phòng kinh doanh Mikhail" thì bạn có thể nghĩ "Họ đang muốn bán món gì đây". Nếu tôi ký "Chủ tịch công ty" thì bạn sẽ nghĩ rằng "À, họ tôn trọng mình". Còn nếu tôi ký " Trưởng phòng tín dụng" thì hẳn bạn sẽ tỏ ý nghi ngờ "Khoản nợ nào đây?" Nếu tôi ký "Luật sư" (Trưởng bộ phận pháp chế) thì điều này thường gợi cho người nhận mong muốn đọc lại văn bản một lần nữa: "Ý họ định nói gì giữa các dòng kia?" Tôi muốn bạn lưu ý đến tác dụng của chữ ký. Còn nếu nói điều gì hiệu quả hơn cả thì chúng ta có thể bắt đầu từ lá thư thứ hai, tốt hơn là có chữ ký của luật sư. Điều này khiến con nợ có cảm giác rằng, những gì bạn nói trong thư là rất nghiêm túc và chuyên nghiệp.

Như vậy, chữ ký xác lập văn cảnh của lá thư và tác động đến người nhận: tác động "mềm" nếu bức thư được ký bởi đại diện của bộ phận khách hàng (bộ phận bán hàng), vì với bức thư thế này, khách hàng sẽ nghĩ rằng, công ty quan tâm đến họ như một khách hàng chứ không phải đang mong được trả nợ.

Bức thư được ký bởi lãnh đạo công ty thường tạo ra ấn tượng trung hòa chính đáng. Một số người nghĩ rằng, chữ ký của lãnh đạo công ty thường mang tính chất hình thức, rằng đằng sau những chữ ký như vậy không tồn tại sự kiểm soát công nợ nào.

Hiệu quả hơn có lẽ là những bức thư được ký bởi "chuyên viên tín dụng". Chuyên môn của người ở vị trí này có thể tạo ra hiệu ứng tốt đối với các nhân viên của công ty – con nợ.

Hiệu quả gay gắt hơn là những bức thư được ký bởi "luật sư" hoặc "Trưởng bộ phận pháp chế".

Tôi cũng muốn nhắc nhở các bạn một chút rằng, trong khi nói chuyện điện thoại/nói chuyện riêng với khách hàng – con nợ, nên sử dụng động từ. Nhiệm vụ của bạn không chỉ đơn thuần là viết thư mà là kích động họ trả nợ. Danh từ chỉ có chức năng thông báo, còn động từ thường kích động hơn, vì thế, nên sử dụng động từ.

Các phương pháp tạo ra sự khác biệt giữa thư đòi nợ và các loại văn bản, giấy tờ khác
Ta có thể tác động đến người nhận thư như thế nào?

Đương nhiên, cách chúng ta gửi thư cũng đóng vai trò quan trọng. Bức thư nghiêm trọng nhất có lẽ là bức thư được gửi qua nhân viên giao nhận (messenger). Khi đó, khách hàng – con nợ phải ký xác nhận vào tờ biên nhận. Cũng cần phải chú ý chi tiết này: nhân viên giao nhận phải "hành xử" đúng cách – giao văn bản đúng đối tượng, điều này tạo ra tác dụng về tâm lý đối với người nhận thư.

Phương pháp đơn giản nhất để làm nổi bật bức thư từ một mớ văn bản – sử dụng các loại giấy đặc biệt. Nếu như bạn sử dụng không phải là loại giấy A4 mà là В4 (format theo kiểu Mỹ) hay loại đặc biệt khác, lúc đó, người nhận sẽ giữ lá thư trong tay và hiểu rằng có điều gì đó đặc biệt hơn những thứ hàng ngày anh ta vẫn nhận. Điều này tạo ra sự chú ý hơn của người nhận đối với văn bản.

Một số công ty sử dụng các tờ giấy dán mua sẵn lên bì thư với thông tin được thể hiện trên đó rằng, bức thư này (thư nhắc nợ) nằm dưới sự kiểm soát đặc biệt. Điều này có vẻ như rất khác biệt so với chuẩn văn bản thông thường, nhưng lại rất hiệu quả. Nếu như bạn muốn sử dụng phương pháp ít tốn kém thì nên đặt mua một con dấu màu xanh có dòng chữ: "Văn bản này được Bộ phận Kiểm soát tín dụng giám sát chặt chẽ". Bạn cũng có thể lập phiếu thanh toán có đề thời hạn rồi đóng dấu "Phiếu nhắc nợ lần…" Hoặc trong suốt bức thư, bạn cũng có thể sử dụng những dòng chữ màu được tạo ra một cách cố ý với mục đích nhắc nợ.

Cũng có thể có nhiều phương pháp khác có tác dụng. Một trong số đó được áp dụng khi bạn có nhiều con nợ. Bạn có thể tạo ra một bưu thiếp, trong đó viết rõ cách thức "Hãy thanh toán nợ". Phương thức này tạo ra tác dụng tâm lý đối với người nhận.

Nhưng nếu nói về các phương thức chủ đạo, có lẽ tôi cần phải nhắc lại một chút rằng, chúng ta vẫn còn phong bì của bức thư. Trên phong bì, bạn có thể để dòng chữ màu đỏ, kiểu như "Thư nhắc nợ". Và như vậy, rõ ràng là phong bì thư gắn liền với việc giám sát công nợ. Phong bì màu đen thường tạo ra tác động mạnh. Tôi sẽ kể cho các bạn nghe về chuyện này, bởi vì tôi đã từng nhận một chiếc phong bì như vậy.

Khoảng chừng mười một năm về trước, tôi làm việc cho một công ty, và vào buổi sáng, tôi có cuộc hẹn. Nhưng tôi không đến vào buổi sáng sớm (tôi có cuộc gặp với khách hàng). Tôi nhớ là, khi bước vào văn phòng, mọi người có vẻ rất bận bịu, một cô bé đồng nghiệp bước tới chỗ tôi nói:

- Misa, trên bàn anh có "cái đó" đấy!

Tôi cảm thấy thật thú vị. Bàn làm việc của tôi luôn sạch sẽ, ngăn nắp, và bởi vậy mà sự hiện diện của chiếc phong bì màu đen trên bàn tạo ra một sự khác biệt thật sự. Khi nhìn thấy lô gô trên bì thư, tôi liền hiểu rằng, đơn giản đó chỉ là giấy mời đi triển lãm. Đó là bức thư từ một trong những khách hàng của tôi. Sự việc này khiến tôi nhớ rất lâu, và nó rất quan trọng khi ta muốn nhớ.

Cũng có một công ty đã sử dụng mùi vị để gửi thư. Hãy thử hình dung: gửi cho khách hàng mùi cá ươn hoặc một thứ gì đó không được dễ chịu lắm. Đương nhiên, tình thế này cho ta biết rằng, mối quan hệ của hai bên không thể là chuyện "cơm lành canh ngọt" được.

Giả dụ bạn phải làm việc với các tổ chức có cơ cấu phát triển nhiều tầng và bạn muốn hiểu bức thư của mình tác động thế nào đến cơ cấu nhiều tầng lớp này, hãy thử nhớ lại bộ phim "Nhà tù Shawshank" (The Shawshank Redemption) được chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của Steven King để tìm cho mình phương thức hợp lý nhất.

Nhân vật chính của bộ phim – một tù nhân – kẻ "thấp cổ bé họng" và đáng khinh miệt nhất trong xã hội với hai án chung thân, đang chết héo trong nhà tù Shawshank. Anh ta viết một bức thư cho thượng nghị viện của bang (cơ quan cao nhất trong bậc thang xã hội). Anh ta viết mỗi tuần một bức thư, đúng tuần tự như vậy. Sau 1 năm 4 tháng, thượng nghị viện quyết định gửi cho tên tù nhân một tấm séc trị giá 50 đô la. Người tù hiểu rằng, anh ta đã được để ý đến. Vậy anh ta phải bắt đầu làm gì đây? Anh ta viết hai bức thư mỗi tuần. Và sau bốn tháng, người ta gửi đến cho anh ta một đống tiền – khoản tiền cần thiết cho việc cải tạo, nâng cấp thư viện nhà tù.

Lá thư có thể được coi là phương tiện lý tưởng để tác động đến ai đó. Những giấy tờ đơn giản thường không được để ý lắm trong các cơ quan tổ chức. Người ta nhận công văn, xếp chúng vào tập bìa còng rồi quên bẵng chúng. Và chúng sẽ chẳng có tác động gì đến tổ chức họ nếu những lá htư này cứ nằm yên trong tập hồ sơ. Nhưng nếu như bạn "dội bom" bằng việc gửi nhiều thư nhắc nợ, tập bìa còng kia sẽ đầy. Người ta buộc sẽ phải tạo ra một tập bìa còng riêng biệt cho bạn bởi bạn viết quá nhiều. Hiệu ứng này được gọi là "hiệu ứng bìa còng" và chắc chắn nó luôn gợi cho khách hàng của bạn nhớ tới sự hiện diện của những bức thư nhắc nợ dày cộp trong tập bìa còng. Trong các tổ chức nhiều tầng lớp, chi nhánh, bạn nên duy trì cách gửi thư liên tục.

Thư điện tử



Nguyên tắc chung

1. Tần suất và áp lực : Bạn có thể gửi nhiều thư nhắc nợ qua Internet, tuy nhiên, cũng nên lưu ý rằng, "trận dội bom" của bạn có thể khiến khách hàng – con nợ chán ngán mỗi khi nhìn thấy thư của bạn. Bạn có thể nhắc khéo, và lập tức chấm dứt "trận dội bom" nếu khoản nợ đã được thanh toán.

2. Viết rất ngắn (bức thứ nhất có thể cụ thể một chút, còn các thư sau nên chỉ vài ba dòng)

3. Post Scriptum (P/S) là bắt buộc

4. Sử dụng màu nền cho bức thư và nội dung
Thư điện tử có nhiều lợi thế cho bạn khi chọn lựa màu. Bạn có thể sử dụng nền chuẩn và tạo ra cho mình sự hòa trộn giữa màu chữ cũng như nền thư. Hãy thử pha một chút màu đỏ hơn, một chút màu đen hơn và một chút vàng hơn.

Sự khác biệt duy nhất trong thư điện tử sẽ là những gì mà chúng ta viết ở dòng "ra lệnh" Nội dung bức thư điện tử hầu như không khiến tôi bận tâm, nhưng tôi lại rất quan tâm đến dòng tiêu đề của nó. Cũng giống như trong sms, điều quan trọng là ở đó có dòng "ra lệnh" theo kiểu tái bút: "hãy thanh toán ngay cho SSS khoản tiền …trước ngày…." . Phương pháp này khá là hữu hiệu. Và cho dù người nhận không đọc nội dung bức thư thì họ không thể nào không đọc dòng tiêu đề được. Và chắc chắn là dòng tiêu đề đó ít nhiều có tác động đến họ.

Theo saga.vn

Thứ Hai, 21 tháng 6, 2010

Muốn làm ông chủ, đừng sợ thất bại!



Một trong những lý do mà nhiều người không thể trở thành những chủ doanh nghiệp đó là bởi vì họ sợ thất bại. Họ sợ mắc sai lầm. Họ sợ thâm hụt hầu bao. Nhưng nếu con người ta không thể vượt qua những sợ hãi tâm lý kể trên, tốt hơn hết họ nên hài lòng với công việc hiện tại.

Dưới đây là bài chia sẻ kinh nghiệm của Robert Kiyosaki, tác giả của hàng loạt cuốn sách mang tên “Rich Dad”, ông hiện là nhà đầu tư, chủ doanh nghiệp và nhà giáo dục. Những tầm nhìn ra trông rộng của ông đã góp phần làm thay đổi lối suy nghĩ về tiền bạc và đầu tư của không ít người.

Thất bại nhiều khi lại có thể chỉ cho bạn đi đúng hướng

Đầu những năm 80, khi công việc kinh doanh lớn đầu tiên của tôi thất bại, tôi nghĩ rằng tôi là người ngu ngốc nhất quả đất này. Nhưng chính từ sự thất bại và các cuộc gọi của các chủ nợ đã làm tôi nung nấu ý chí buộc phải trở thành chủ doanh nghiệp. Ngay cả khi tôi muốn quay lại công việc cũ.

Nhưng thay vì trách cứ tôi vì thất bại, ông bố giàu có của tôi đã dành tặng tôi một trong những bài học quan trọng nhất của cuộc đời: “Con thật may mắn vì đã thất bại. Bây giờ con có cơ hội để học cách biến vận rủi thành vận may. Nếu con có thể làm được điều đó, con sẽ có một cuộc sống ngày càng may mắn hơn.”

Dưới đây là ba điều then chốt để biến vận rủi thành vận may mà ông đã truyền đạt lại cho tôi:

1. Đừng đổ lỗi

Khi bố tôi hỏi tôi: “Con có biết, con đã làm sai điều gì?”, điều đầu tiên tôi làm đó là đổ lỗi cho các đối tác và nền kinh tế. Ngay lập tức, ông ấy nói: “Đừng bao giờ đổ lỗi cho bất kỳ ai vì sự thất bại của mình.”

Tôi đáp lại: “Nhưng đó là lỗi của họ.”

Bố tôi lắc đầu nói tiếp: “Nếu con đổ lỗi cho ai đó, con sẽ không bao giờ học hỏi được từ những sai lầm của mình. Nếu con đổ lỗi cho họ tức là con đang để tuột mất sức mạnh của chính mình.” Và bạn cũng hãy nhớ rằng, trong đấu trường kinh doanh này, không có ai là nạn nhân, mà chỉ có người tự nguyện. Và bạn chính là người tự nguyện trở thành một chủ doanh nghiệp.

2. Gặp gỡ đối tác mới

Bố tôi từng nói: “Trong mọi công việc kinh doanh không suôn sẻ, bố đã luôn gặp những người tốt. Một số trong số họ đã trở thành đối tác mới.” Và hiện giờ thì tôi ghét hai trong số những đối tác làm ăn của mình, với tôi để hiểu được câu nói này của ông không phải là điều dễ dàng. Tuy nhiên, tôi vẫn khắc ghi lời khuyên của ông và bắt đầu xem xét, sàng lọc mọi thứ từ sự thất bại trước.

Cho đến giờ, một trong những người bạn tốt nhất của tôi có được cũng từ sự thất bại trong kinh doanh đó. Trong đống đổ nát của những thất bại kinh doanh khác, tôi đã gặp đối tác hiện nay trong lĩnh vực bất động sản và một đối tác nữa trong công việc kinh doanh chuyển nhượng. Nếu không có những thất bại này, tôi sẽ không thể gặp được những chủ doanh nghiệp có thể làm bạn và tiếp tục cùng nhau kiếm hàng triệu đô la với họ.

3. Nghiên cứu sai lầm

Bố tôi từng dạy: “Sai lầm là vô giá, hãy nghiên cứu chúng, học hỏi và tận dụng chúng.”

Một lần nữa, lời dạy này lại không dễ với tôi chút nào. Những lúc nổi cáu và cùng đường, tôi chỉ muốn chạy trốn khỏi những lỗi lầm của bản thân. Nhưng thay vì chạy trốn khỏi nó, tôi đã quay lại nhà máy của mình, nghiên cứu sai lầm của chính tôi và “cải tử hoàn sinh” cho doanh nghiệp.

Đây chính là bí kíp làm thế nào để biến vận rủi của mình thành vận may. Hãy nhớ rằng, mắc sai lầm và trở nên thông minh hơn là công việc của một chủ doanh nghiệp, còn không mắc lỗi lầm chỉ là công việc của một nhân viên.

(Theo Lanhdao/Entrepreneur)

Thứ Sáu, 18 tháng 6, 2010

Bí quyết khởi nghiệp từ số không - Thương hiệu cá nhân



Rất nhiều, rất nhiều người nghĩ rằng khởi nghiệp là rất khó khăn, cần nhiều vốn và kiến thức... hay nhiều điều kiện tiền đề. Nhưng cũng có không ít người khởi nghiệp cũng đến rất tình cờ, dễ dàng như là duyên số.

Quả thực khởi nghiệp có khó khăn đến như vậy không, bài viết dưới đây đề cập đến một khái niệm là tiền đề cho việc khởi nghiệp mà bất kỳ ai cũng có thể làm được đó là Thương hiệu cá nhân.

Đối với chúng tôi , luôn có một khẩu hiệu: Muốn làm được việc lớn, phải làm tốt những việc nhỏ.

Và một nguyên tắc nữa là không giao việc lớn khi chưa làm tốt việc nhỏ, không giao tiền lớn khi chưa biết tiêu tiền nhỏ. Làm tốt việc mình đang làm thì tự động tiền bạc nó sẽ đến.

Quả thực theo tôi nghĩ, khởi nghiệp không quá khó khăn như ta tưởng đến thế. Khi tôi làm tốt những khoản đầu tư nhỏ, có những đánh giá tốt, thì công ty giao cho tôi những khoản tiền lớn. Khi tôi chứng minh được khả năng xài tiền lớn thì lại càng nhiều tiền được giao cho tôi.

Uy tín và thương hiệu cá nhân có lẽ là cái cơ bản nhất để khởi nghiệp. Thương hiệu cá nhân được xây dựng từ những hành vi nhỏ nhặt nhất. Nếu không xây dựng được thương hiệu cá nhân thì chắc là khi khởi nghiệp sẽ có rất nhiều "cái lưng" xuất hiện.

Theo chúng tôi, vấn đề vốn kinh doanh không phải là vấn đề chính, nếu có ý tưởng tốt, được một người trung thực hiểu biết xây dựng thì chắc chắn không có lý do gì mà không được xem xét để tài trợ vốn đầu tư.

Tôi được tặng một cuốn Văn Minh làm giàu và Nguồn gốc của cải của TS. Vương Quân Hoàng, tiếc rằng trong cuốn sách này không thấy có đề cập đến vấn đề Thương hiệu cá nhân để khởi nghiệp.

Mong các bạn suy nghĩ về vấn đề này - Thương hiệu cá nhân - Khái niệm tuy không mới nhưng tôi nghĩ là cái xuất phát của mọi thành công.

Theo saga.vn

Thứ Ba, 15 tháng 6, 2010

Marketing không tốn tiền



Có cách nào để có thể làm marketing mà không tốn tiền không? Làm thế nào để công ty không phải nợ nần vì mất nhiều chi phí vào việc tìm thị trường?

Khi nói đến quảng bá thương hiệu, nhiều người cảm thấy chùn bước khi nghĩ đến chi phí hàng tỉ đồng cho các mẫu quảng cáo trên TV, báo chí hay các sự kiện quảng bá trên cả nước…

Thực tế là hầu hết các hoạt động marketing đều tốn kém, dù ít dù nhiều bạn cũng phải bỏ ra một ít chi phí. Tuy nhiên, có một số cách ít tốn kém, thậm chí là không tốn một xu nào mà bạn vẫn đạt được mục đích cuối cùng là mang thương hiệu đến gõ cửa nhà người tiêu dùng.

Những bí quyết dưới đây có thể không bắt bạn phải trả tiền nhưng bạn sẽ phải dành thời gian cho nó. Hãy chuẩn bị tinh thần nhé.

Những bí quyết này phù hợp cho cả những công ty mới thành lập. Hãy bắt tay ngay từ bây giờ và thực hiện từng việc một. Bạn sẽ có kết quả không ngờ.

1.Xây dựng mạng lưới tại các sự kiện: Bạn hãy tham dự vào các hội thảo của Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các cuộc gặp của các hiệp hội doanh nghiệp, các tổ chức do doanh nhân thành lập.

Tại đó, bạn có thể tìm cách gây sự chú ý của khách hàng và thu hút khách hàng. Hãy xin danh thiếp của các giám đốc, những người tham dự hoặc có mặt tại các sự kiện này, sau đó bạn nên viết thư hoặc gọi điện để giữ liên hệ.

Hãy làm việc này ngay lập tức. Nếu những "khách hàng" tiềm năng không thể sử dụng dịch vụ hoặc sản phẩm của bạn ngay, hãy nhờ họ tư vấn xem liệu có một ai đó có thể cần tới dịch vụ của bạn và xin họ thông tin về đối tượng đó.

2. Tham dự các cuộc gặp gỡ công chúng: Tại các cuộc tiếp xúc với công chúng, việc đưa ra các cam kết sẽ rất có ích để gây được sự quan tâm của những người tham dự. Đây là một cách không chỉ có thể giúp bạn chia sẻ hiểu biết của mình mà còn có thể giúp người khác từ những thông tin của bạn, đồng thời cũng làm cho mọi người biết đến dịch vụ của bạn.

3. Phát những tài liệu có ích: Khi những tài liệu của bạn phát đi, người ta chỉ giữ lại chúng vì chúng có ích cho họ, bằng không họ sẽ cho nó vào thùng rác. Ví dụ, với người làm công việc tư vấn kinh doanh, có thể tài liệu phát đi là "Top 10 bí quyết Marketing mà đối thủ của bạn muốn biết". Hãy đảm bảo là tên, số điện thoại, email, website của bạn được ghi đầy đủ trên tài liệu này.

4.Xây dựng liên doanh: Bạn hãy tìm đồng nghiệp hoặc các doanh nghiệp khác làm cộng sự để cùng hợp tác phát triển. Ví dụ những người làm phần mềm thì có thể kết hợp với những người thiết kế web. Những người làm thiết kế lại có thể kết hợp với người làm copywriter. Bạn thử tìm xem ai có thể làm đối tác với bạn được nhé.

Theo vietnambranding.com

Thứ Bảy, 12 tháng 6, 2010

10 cạm bẫy luôn chờ doanh nhân mới


Ảnh minh họa.

Không thèm viết kế hoạch kinh doanh, muốn có lãi ngay, thích kiểm soát mọi hoạt động của công ty là những sai lầm có thể bóp chết doanh nghiệp mới thành lập.

Hy vọng thường tới sau mỗi dịp năm mới. Một số người sẽ cảm thấy yêu quý hơn những công việc tẻ nhạt hàng ngày. Nhiều chủ nhà dọn dẹp nhà kho ẩm mốc, còn một số cô gái có can đảm cắt đứt quan hệ với chàng người yêu bê tha hoặc bất tài. Nhưng một số người lại từ bỏ công việc làm thuê để lập doanh nghiệp cho bản thân.

Lập công ty là công việc đầy mạo hiểm trong mọi môi trường. Nó đòi hỏi tầm nhìn, vốn, sự can đảm, lòng tin và thậm chí cả tính kiêu ngạo. Trên thực tế, sự thiếu tự tin có thể bóp chết một công ty non trẻ. Nhưng quá tự tin đến mức thái quá cũng sẽ đẩy các doanh nhân mới vào những sai lầm tai hại. Làm thế nào để đạt được sự cân bằng giữa tự tin và kiêu căng? Theo các chuyên gia của tạp chí Forbes, có 10 cạm bẫy cổ điển mà người mới gia nhập thương trường nên tránh.

1. Coi thường kế hoạch kinh doanh

Bạn nghĩ rằng kế hoạch kinh doanh là thứ chỉ dành cho các nhà đầu tư? Nếu quả thật bạn nghĩ vậy thì chắc chắn bạn sai. Kế hoạch kinh doanh là thứ đầu tiên và cơ bản nhất mà mọi doanh nhân cần có. Soạn thảo kế hoạch kinh doanh buộc các tân doanh nhân suy nghĩ về mọi vấn đề cơ bản – từ tài chính, tiếp thị cho tới nhân sự. Kế hoạch kinh doanh cũng giúp bạn truyền tải tầm nhìn và quan điểm kinh doanh tới những người làm thuê, kế toán viên, luật sư, đối tác và những đối tượng khác.

Ngoài ra, việc viết kế hoạch kinh doanh cũng cho phép doanh nhân đánh giá khả năng hoạt động của công ty. Nếu ai đó không thể đánh giá hoạt động của công ty, chắc chắn người ấy không thể quản lý nó.

2. Phải có lãi ngay

Một người nghiên cứu thành công một loại thuốc chống hói mới và nghĩ rằng nó thật sự ưu việt hơn hẳn những loại thuốc chống hói hiện có. Vì thế anh ta quyết định thành lập công ty để sản xuất thuốc chống hói mới và tin chắc sẽ hốt bạc trong tương lai gần. Nhưng đó chỉ là suy nghĩ của một cá nhân. Những người bị hói chưa chắc chấp nhận mức giá mà vị doanh nhân kia đưa ra, hoặc không quan tâm tới sản phẩm bởi họ chưa biết nhiều về nó. Có thể vị doanh nhân vẫn bán được sản phẩm, nhưng với mức giá thấp đến nỗi anh ta không có lãi sau khi trừ chi phí sản xuất, tiếp thị và phân phối. Có thể sản phẩm của bạn rất tốt và rẻ, song bạn sẽ khó thành công nếu chưa hiểu thị trường. Vì thế, thay vì tưởng tượng tới một viễn cảnh sáng lạn, việc đầu tiên mà bạn cần làm là nghiên cứu thị trường và đánh giá cơ hội của sản phẩm hoặc dịch vụ mới.

3. Sản phẩm hoàn hảo nên chẳng cần tiếp thị

Ngày nay người ta thường nhắc đến một thuật ngữ khá phổ biến là “tiếp thị miệng”. Có thể hiểu nôm na thuật ngữ này như sau: “Chúng ta không tiến hành hoạt động tiếp thị, nhưng sản phẩm của chúng ta tuyệt vời đến nỗi mọi người sẽ biết tới nó thông qua tiếp thị miệng và các mạng xã hội”. Nhưng thực tế không đúng như thế. Tiếp thị miệng chỉ thực sự phát huy tác dụng sau khi công ty tiến hành một dạng tiếp thị nào đó và chi những đồng tiền thực.

4. Ta chẳng có đối thủ cạnh tranh

Những nhà đầu tư mạo hiểm nghe câu nói này hàng trăm lần. Có một thực tế mà mọi doanh nhân mới nên biết: Đối thủ cạnh tranh có thể là nhà sản xuất sản phẩm, dịch vụ cùng loại hoặc nhà cung cấp sản phẩm, dịch vụ khác biệt nhưng có thể thay thế sản phẩm, dịch vụ của bạn. Nếu bạn không thể xác định được đối thủ cạnh tranh thì có thể do hai nguyên nhân: Bạn không tìm kiếm họ hoặc chẳng có thị trường nào dành cho sản phẩm, dịch vụ của bạn.

5. Tôi phải kiểm soát mọi hoạt động của công ty

Vô số công ty có khởi đầu đầy hứa hẹn nhưng chẳng bao lâu sau rơi vào cảnh phá sản do thiếu vốn đầu tư. Nguyên nhân là người sáng lập công ty không chịu nhường vị trí giám đốc điều hành cho một người có kinh nghiệm và tài năng hơn để nhận một khoản đầu tư lớn. Những doanh nhân ít vốn nhưng thích làm giám đốc điều hành nên nhớ rằng trong nhiều trường hợp họ nên hy sinh lợi ích trước mắt để bảo đảm sự tồn tại của công ty.

6. Chúng ta quá khôn ngoan nên các hãng lớn chẳng làm gì được

Thông thường các công ty lớn không phải là hiểm họa đối với sự tồn tại của các doanh nghiệp mới bởi cơ hội của các doanh nghiệp mới quá nhỏ để có thể đe dọa vị thế hàng đầu của họ. Phục vụ tốt một bộ phân khách hàng tương đối nhỏ có thể tạo ra mức lợi nhuận thấp song bền vững. Nhưng một công ty tin học mới gặt hái một vài thành công không nên tự mãn tới mức cho rằng họ đủ sức cạnh tranh ngang ngửa với những “đại gia” như Microsoft hay IBM. Nếu một chủ doanh nghiệp mới nào đó nghĩ như vậy, tốt hơn anh ta không nên để các nhà đầu tư biết, kẻo họ lại nghĩ họ đang gửi gắm tiền tiết kiệm cho một doanh nhân không thực tế.

7. Sản phẩm của ta nhiều tính năng hơn mọi đối thủ

Một công ty tìm tất cả tính năng của những sản phẩm cùng loại đang có trên thị trường rồi gộp tất cả những tính năng ấy vào một sản phẩm mới. Sau đó chủ công ty tin rằng sản phẩm của anh ta sẽ giành lợi thế trên thị trường vì nó sở hữu nhiều tính năng hơn mọi sản phẩm cùng loại. Nhưng thực tế là việc tiếp thị hàng đống tính năng chỉ khiến khách hàng cảm thấy bối rối. Đấy là chưa kể tới việc bạn sẽ phải chi hàng núi tiền để chuyển sang sản phẩm hoặc dịch vụ mới. Trong nhiều trường hợp sản phẩm càng đơn giản càng dễ bán.

8. Ta có lợi thế của người đi trước

Câu này có vẻ đúng, nhưng thực tế là chúng ta chỉ duy trì được lợi thế của kẻ tiên phong nếu công ty sở hữu bằng sáng chế hay một thứ gì đó mang lại ưu thế lâu dài. Trong trường hợp ngược lại, chính bạn cũng chẳng rõ bạn có lợi thế gì.

9. Chỉ nên mạo hiểm bằng tiền của người khác

Đầu tư tiền túi là cách để bạn cho các cổ đông của công ty thấy sự khác biệt giữa khái niệm "tham gia" và "cam kết" trong kinh doanh. Mọi cổ đông đều muốn nhìn thấy chủ doanh nghiệp đầu tư bằng tiền riêng để thể hiện mức độ "cam kết". Vì thế bạn không nên nghĩ "tôi chả việc gì phải mạo hiểm bằng tiền của mình".

10. Có thể thư giãn khi công ty có lãi

Công việc thực sự của một doanh nhân chỉ thực sự bắt đầu khi công ty có thu nhập. Nhưng ngay sau đó bạn sẽ phải làm vô số việc như quản lý các ngân quỹ, thực hiện các kế hoạch, truyền cảm hứng cho nhân viên. Mọi nhà đầu tư sẽ cảm thấy bất an nếu chủ doanh nghiệp có tư tưởng hưởng thụ khi công ty mới bắt đầu có lãi.

Thái Dương (theo Forbes)

Thứ Sáu, 11 tháng 6, 2010

Những kho báu tiềm ẩn trong công ty


Ảnh minh họa

Trong giai đoạn kinh tế suy thoái, tăng doanh thu trở thành thách thức lớn đối với mọi giám đốc điều hành. Nhưng doanh thu của công ty vẫn có thể tăng nếu họ biết cách khai thác những "mỏ vàng" mà ít người nhận ra.

Dưới đây là bài viết của Neil Smith - giám đốc điều hành công ty Promontory Growth and Innovation ở thành phố New York, Mỹ - trên báo New York Times. Công ty tư vấn này kiếm tiền bằng cách giúp khách hàng tăng doanh thu và giảm chi phí thông qua những cách làm đầy sáng tạo.

Khi vị giám đốc điều hành mới của một công ty bảo hiểm xe hơi ở một bang miền tây nước Mỹ muốn tăng doanh thu, ông bắt đầu bằng một cách rất khác thường. Thay vì phát triển sản phẩm và hàng mới, ông tìm kiếm cơ hội ngay trong những sản phẩm và khách hàng mà công ty đang có.

Vị giám đốc phát hiện mỗi khi một điều khoản bảo hiểm nào đó được sửa đổi theo hướng tăng mức phí, công ty thường gửi thông báo tới khách hàng một tháng trước khi nó có hiệu lực. Nhưng nếu một khách hàng gặp tai nạn xe hơi trong khoảng thời gian một tháng ấy, người đó sẽ không phải trả mức phí bảo hiểm mới. Một lỗi trong phần mềm quản lý khách hàng của công ty gây nên tình trạng này.

Những nhân viên trong công ty biết thực tế đó từ hàng chục năm trước, nhưng không không biết khoản tiền phí thất thoát là bao nhiêu. Cũng chẳng ai quan tâm tới việc khắc phục lỗi phần mềm và chi phí khắc phục. Hóa ra chi phí dành cho việc chữa lỗi chỉ là 5.000 USD, trong khi khoản tiền thất thoát do lỗi gây ra lên tới hơn 400.000 USD mỗi năm. Vị giám đốc điều hành rất phấn khích. Sau đó, với sự giúp đỡ của công ty tư vấn, ông đã tìm ra hơn 300 cơ hội tăng doanh thu ngay trong hãng. Những cơ hội đó giúp doanh thu hàng năm của hãng tăng thêm 15%.

Kỷ nguyên “Siêu cạnh tranh” đang tới gần. Các công ty sẽ có nhiều cơ hội giành lợi thế trong môi trường siêu cạnh tranh nếu họ chuẩn bị đón nó ngay từ bây giờ. Đã đến lúc trở thành kẻ tiên phong trong việc tăng lợi nhuận và những “kho báu ngầm” trong công ty cần được khai thác trước tiên.

Chìa khóa để mở những kho báu tiềm ẩn nằm trong tay của mọi thành viên trong công ty. Nhiều người làm thuê biết hàng trăm (thậm chí hàng nghìn) cách để tăng doanh thu, nhưng do những “rào cản nội bộ” nên họ không thể đề xuất ý tưởng hay thực hiện chúng. Trong trường hợp của hãng bảo hiểm ô tô, chẳng ai trong công ty nhận ra số doanh thu mà hãng thất thoát mỗi năm, cũng như khoản chi phí nhỏ để khắc phục sự cố máy tính.

Những doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thường gặp phải tình trạng quá tải theo giờ. Nhưng nếu chịu khó tìm tòi họ có thể kiếm tiền từ tình trạng đó. Một ngân hàng nhận thấy 65% giao dịch đượcthực hiện trong khoảng một giờ trước thời điểm đóng cửa. Tình hình ấy khiến ngân hàng phải huy động toàn bộ nhân viên trong giờ cao điểm. Nhưng trong 7 giờ làm việc còn lại thì ngay cả những nhân viên xuất sắc nhất cũng chẳng có nhiều việc để làm.

Nhằm ổn định nhịp độ làm việc của nhân viên, ban lãnh đạo ngân hàng quyết định tăng phí đối với những giao dịch muộn và giảm phí đối với giao dịch sớm. Họ hy vọng khách hàng sẽ giao dịch sớm hơn, nhưng kết quả là hành vi của phần lớn khách hàng hầu như không thay đổi. Họ vẫn tới ngân hàng muộn dù biết sẽ phải trả thêm tiền. Vấn đề quá tải vào giờ cao điểm không được giải quyết, song doanh thu của ngân hàng tăng thêm 30%. Đây quả là một con số ấn tượng đối với một sáng kiến nhỏ nhoi.

Mọi công ty đều có những tài sản vật chất không liên quan trực tiếp tới công việc kinh doanh, chẳng hạn như các đồng hồ đo. Một bang của Mỹ quy định các doanh nghiệp phải thay mới các loại đồng hồ đo sau 20 năm sử dụng. Mặc dù phần lớn đồng hồ đo vẫn hoạt động tốt sau 20 năm, hàng năm vẫn có hàng triệu chiếc bị vứt. Nhưng nhiều bang khác ở nước Mỹ lại không có quy định như bang kia. Một công ty phát hiện ra rằng có một thị trường dành cho những người mua, bán các loại đồng hồ đo đã sử dụng. Thế là công ty đó kiếm hơn 250.000 USD mỗi năm bằng cách bán đồng hồ đo đã sử dụng.

Trong môi trường siêu cạnh tranh như hiện nay, những giám đốc điều hành khôn ngoan sẽ tiến hành chiến dịch tăng doanh thu trong thời gian sớm nhất có thể. Nhưng một giám đốc điều hành cực kỳ thông minh sẽ nhận ra cơ hội lớn ngay từ trong bãi rác hay nhà kho của công ty và yêu cầu nhân viên dưới quyền “đào vàng” ở những chỗ đó trước.

Thái Dương (theo New York Times)

Thứ Ba, 8 tháng 6, 2010

'Vị đắng' khởi nghiệp kinh doanh


Khi khởi nghiệp, các bạn trẻ còn non kinh nghiệm thường thiếu kế hoạch kinh doanh dài hơi.

Bỏ 300 triệu đồng thuê lại quán cà phê cũ trong một con hẻm quận 3, TP HCM, phải mất 2 tuần sau ngày khai trương, Hùng mới biết mình bị hớ 100 triệu đồng. Song, những thử thách vẫn tiếp tục đeo bám chàng trai trẻ.

Cùng nhóm bạn ky cóp tiền để dành sau mấy năm làm thuê để hùn vốn mở quán cà phê, là mong ước của Hùng nhiều năm qua. Ngay khi mở được quán, bắt tay vào điều hành công việc, Hùng mới thấm thía kinh doanh hóc búa hơn mình tưởng.

Giữa tháng 3, săn lùng, dạo khắp Sài Gòn, gặp đủ loại cò đất dắt mối, Hùng được giới thiệu đến một quán cà phê cũ trong con hẻm nhỏ, nằm gần trục đường Lê Văn Sỹ. Vì quá vội vàng, nhóm bạn của Hùng đã không khảo sát giá mà chấp nhận sang quán với chi phí khá cao 300 triệu đồng (chưa tính tiền thuê mặt bằng mỗi tháng) trong thời hạn 24 tháng. Mãi đến sau này, khi mọi sự đã rồi, Hùng mới biết trước đó từng có người được chào giá sang quán này chỉ 200 triệu đồng nhưng nhà đầu tư vẫn chê đắt đỏ và từ chối.

Không chỉ bối rối vì bị hớ chi phí mặt bằng, nhóm bạn của Hùng còn lúng túng trong việc điều phối chỗ giữ xe vì khu vực giữ xe cho khách vào quán quá nhỏ. Những ngày đầu khai trương, bạn bè đến ủng hộ quán khá đông nhưng ngặt một nỗi chỗ để xe không đủ chứa nên đậu tràn ra lòng hẻm. Xung quanh không có cao ốc văn phòng, cũng chẳng có nhiều trụ sở công ty, chủ yếu là nhà dân; trong khi đó phía mặt tiền đường Lê Văn Sỹ lại đầy quán cà phê đối thủ cạnh tranh, tạo thêm áp lực tìm kiếm khách.

"Thiết kế chương trình như thế nào, làm sao để nhiều người biết đến quán, bạn bè không thể ủng hộ mãi được, rồi mỗi ngày áp lực phải thu vào bao nhiêu mới đủ chi phí điều hành khiến tôi lo lắng đủ thứ", Hùng thành thật chia sẻ.

Đứng trước những khó khăn này, Hùng đã cầu cứu nhiều bậc anh chị có kinh nghiệm tư vấn giúp mình gỡ khó, và chịu "đòn nhừ tử" từ những trận mắng như té tát. Vốn đã thấm thía con đường mình đi có nhiều chông gai, thiếu sự cân nhắc, chưa chuẩn bị chu đáo, chàng trai trẻ thừa nhận, chỉ có việc kiên trì đeo bám, không bỏ cuộc giữa chừng mới tránh được nguy cơ thua lỗ nặng.

Cũng từng trải qua những va vấp khi kinh doanh quán cà phê cách đây 3 năm, đôi bạn đồng môn ở Đại học kiến trúc, Thành và Dũng chia sẻ: "Hồi đó chúng tôi bán buôn theo cảm hứng, không hề có kế hoạch tính toán dài hạn. Hợp đồng thuê quán chỉ có 3 năm, nhiều điều khoản bất lợi khi chủ đất đòi lại mặt bằng nhưng chúng tôi không lường hết được".

Dũng chia sẻ, năm 2007, anh mở quán cà phê tại quận Phú Nhuận. Dày công chăm chút từ thiết kế đến phong cách phục vụ, đến tháng thứ 10 anh bắt đầu có nhiều khách ủng hộ, quán bước vào thời kỳ ăn nên làm ra. Tuy nhiên, đến tháng thứ 13, chủ đất đột ngột đòi tăng chi phí mặt bằng nếu không sẽ hủy hợp đồng. Vì muốn bám trụ, Dũng vừa thỏa thuận vừa năn nỉ chủ đất chấp thuận mức tăng 15% phí thuê mặt bằng. "Tuy nhiên, khi chủ đất yêu cầu tăng giá thuê mặt bằng lần 2 với tỷ lệ 30% thì chúng tôi gục ngã, chấp nhận rút lui vì nếu tiếp tục sẽ lỗ nặng", Dũng kể lại.

Mặc dù việc hùn vốn mở quán cà phê đang trở thành một xu hướng kinh doanh được nhiều bạn trẻ chọn lựa, nhưng không phải ai cũng dễ dàng gặt hái thành công. Người này thất bại ở khâu thuê mặt bằng, thiết kế quán, người kia bị hạn chế trong khâu tiếp thị, quảng bá hình ảnh, tổ chức chương trình văn nghệ đặc trưng cho quán. Cũng có người mở quán rất thành công nhưng bị tăng giá đột ngột hoặc bị lấy lại mặt bằng.


Với các bạn trẻ, sự hỗ trợ, tham khảo và học hỏi kinh nghiệm từ người đi trước sẽ giúp cho việc khởi nghiệp thuận lợi hơn.


Bàn về cách khởi nghiệp của các bạn trẻ, nguyên Trưởng phòng đào tạo khối nhượng quyền tập đoàn Trung Nguyên, Trang Minh Hà nhận xét: "Mở quán cà phê là một hình thức kinh doanh khá thịnh hành đối với nhiều bạn trẻ. Song, thương trường cũng như chiến trường, đây là cuộc chơi khó, đòi hỏi phải tính toán chi ly và đầu tư nhiều tâm huyết. Nếu lơ là sẽ thất bại như chơi".

Ông Hà phân tích, nếu muốn mở quán cà phê, việc đầu tiên, người chủ cần tập làm quen với bài toán chi phí: thuê mặt bằng, vật tư sửa chữa, trang trí, điện nước, nhân công và thời gian hoàn vốn trong bao lâu. Lời giải của bài toán là mỗi ngày phải thu vào bao nhiêu tiền đủ để điều hành mà không thua lỗ. Từ đó, các bạn tiến thêm bước nữa là tham khảo ý kiến của những người đi trước, khảo sát các chi phí trên thị trường đồng thời tìm hiểu kỹ những đối thủ cạnh tranh.

Lường trước những ẩn số trên, khi tìm mặt bằng mở quán cà phê cần lưu ý đặt vị trí lên làm yếu tố hàng đầu. Quán sẽ nằm ở quận mấy, tuyến đường nào, hẻm hay mặt tiền đường, có dễ tìm, dễ nhận biết hay không, gần cao ốc văn phòng, khu dân cư? Ngoài ra, chỗ giữ xe cũng là một yếu tố đóng vai trò lớn đối với loại hình kinh doanh quán cà phê. Nếu chỗ giữ xe không đảm bảo, khách sẽ bỏ quán và không quay lại nữa.

Riêng về phí thuê mặt bằng, theo ông Hà, các bạn trẻ phải lưu ý thuê mặt bằng từ 5 năm trở lên mới kinh doanh có lời, cần ràng buộc thêm không tăng giá thuê trong thời gian hợp đồng còn hiệu lực, mức phạt khi hủy hợp đồng phải có lợi cho bên thuê đất và nếu trong trường hợp bắt buộc phải tăng phí thuê thì không được vượt quá 10%.

Một chuyên gia kinh tế cho rằng, dễ dãi trong bước khởi nghiệp kinh doanh mà không có khảo sát, nghiên cứu thị trường là biểu hiện của lối suy nghĩ "sweet" ( vị ngọt của đường) mà quên đi bài học "salt" (vị mặn của muối). Bởi lẽ, trong khi non kinh nghiệm, lại eo hẹp tài chính, kiến thức cơ bản chưa đủ, thiếu mối quan hệ, các bạn trẻ vẫn ảo tưởng cho rằng thành công sẽ mỉm cười ngay là cái nhìn sai lệch.

Chuyên gia này khuyến cáo rằng, khi chưa có tiền bạc và kinh nghiệm thực tế, các bạn trẻ nên tham gia vào những dự án kinh doanh của doanh nghiệp trong vai trò người tình nguyện học việc có hưởng trợ cấp. Với việc làm tình nguyện này, các bạn có điều kiện học hỏi, phát huy khả năng và tôi luyện mình cứng cáp dần lên, chuẩn bị chu đáo tài lực, trí lực cho những kế hoạch kinh doanh trong tương lai.

Vũ Lê

Thứ Sáu, 4 tháng 6, 2010

Doanh nhân, anh là người hạnh phúc?



Doanh nhân thường được xem là lớp người bận rộn, thành đạt và có tiền của. Anh cũng thường là những người có quyền thế, ở vị trí phải điều động hàng trăm hàng ngàn nhân viên, quyết định số phận và nghề nghiệp của rất nhiều người thuộc quyền. Doanh nhân cũng thường tiếp xúc với thượng tầng xã hội, giao thiệp với các giới chức cấp cao trong và ngoài nước. Địa vị của anh do đó là niềm mơ ước của rất nhiều người.

Vì những lẽ đó doanh nhân dễ là những người có hạnh phúc. Hạnh phúc, dù có nhiều hình dung và định nghĩa khác nhau về nó, thường thì dễ có nơi những người thành đạt và giàu sang. Thành công trong cuộc sống hầu như là điều kiện tiên quyết để có hạnh phúc cá nhân. Thiết nghĩ đó là điều khó phủ nhận.

Thế nhưng, những "ưu điểm" để đạt hạnh phúc của doanh nhân cũng chính là mối nguy của anh. Anh biết rõ hơn ai hết, đời sống của doanh nhân rất dễ bị mất hạnh phúc vì hoạt động của chính bản thân mình. Đầu tiên, sức khỏe của anh thường xuyên bị đe dọa vì làm việc quá nhiều. Tâm trạng lo âu và cả bực tức không bao giờ vắng bóng trong lòng nhà doanh nhân. Sức khỏe là điều kiện bắt buộc để có hạnh phúc nhưng chính anh lại lơ là với nó.

Một lý do khác là doanh nhân dễ đồng hóa sự nghiệp với chính mình. Như cô ca sĩ cần tiếng vỗ tay, như nhà chính trị cần lá phiếu bầu, nhà doanh nhân cần doanh thu và lợi nhuận. Trong nhiều trường hợp, khi doanh nhân không đạt doanh số, lập tức anh ta bị mất việc. Đã có nhà doanh nhân khi công ty mình bị phá sản chọn con đường tự tử vì tuyệt vọng. Nhiều khi nhà doanh nhân bên ngoài xem ra như một nhân vật sang trọng nhưng thực chất chỉ là một con người bị phụ thuộc vào con số, thị trường, vào những biến động bất thường của xã hội tiêu thụ. Làm sao anh có hạnh phúc khi bị lệ thuộc quá nhiều?

Hơn thế nữa, vì nội dung cuộc sống chỉ toàn là công việc, vì áp lực của sự thành công, vì đồng hóa mình với sự nghiệp, nhà doanh nhân dễ sinh ra ghiền nghiện công việc, một thứ tâm bệnh mà phương tây gọi là workaholic. Đó là những người không thể không làm việc, luôn luôn nhớ nghĩ đến công việc ngay cả những lúc được nghỉ ngơi. Đó là một dạng mất quân bình nội tâm của lớp doanh nhân mà ngày nay ta thường gặp tại phương tây cũng như phương đông. Những người đó tiøm "hạnh phúc" trong công việc nhưng thực chất họ bị lệ thuộc về mặt tâm lý. Về sau khi họ mất việc hay mất sức làm việc, ta dễ dàng đoán được cuộc đời họ sẽ như thế nào.

Như ta thấy, nhà doanh nhân là một lớp người đặc biệt: anh hội đủ điều kiện để được hạnh phúc, nhưng đồng thời cũng có thể là những người bị lệ thuộc, thậm chí mất thăng bằng tâm lý hay nô lệ công việc. Chiøa khóa của vấn đề qui lại vào nghệ thuật sống của anh. Liệu anh có một số bí quyết để lèo lái cuộc đời sao cho khả năng và cơ hội làm đời mình được thăng hoa chứ không ngược lại. Bí quyết nào làm cho doanh nhân có cơ may được hạnh phúc?

Điều đầu tiên có tính chất nền tảng là nhà doanh nhân cần có một quan niệm khôn ngoan về tài sản và địa vị của mình. Anh cần xem tất cả thứ đó không phải là mục đích cuối cùng mà chỉ là phương tiện đắc lực cho một cuộc đời phong phú và rộng mở. Trên thế giới nhiều nhà doanh nhân là những người sành nghệ thuật và thể thao, triết học và lịch sử. Họ say mê đi du lịch và làm công tác xã hội. Hầu như tất cả đều có một niềm đam mê riêng để cân bằng áp lực công việc.

Điều khác nữa là nhà doanh nhân cần xem sự nghiệp của mình chỉ là một khía cạnh của con người toàn thể. Nó chỉ là một phần, thậm chí là phần nhỏ của một sự sống thâm sâu mà anh còn phải dò tới đáy. Một số doanh nhân Nhật có truyền thống tu dưỡng thiền định định kỳ trong năm (Retreat) để có một khoảng cách nội tâm với những hoạt động hàng ngày. Kinh nghiệm cho thấy, sau kỳ thiền định, nhà doanh nhân không hề lơ là trong công việc của mình nhưng lại tích cực và sáng tạo hơn, đồng thời quân bình hơn trong công việc và đời sống riêng tư. Ngày nay tại phương Tây, thiền định không thể thiếu trong sự tập luyện kỹ năng sống cho nhiều người, từ doanh nhân đến nhà nghiên cứu khoa học, thậm chí cho cả phạm nhân trong tù. Khoa học cũng đã chứng minh mối liên hệ tích cực giữa thiền định và não bộ.

Khi việc kinh doanh đã phát triển, nhà doanh nhân khôn ngoan đã chuẩn bị để có người thay thế mình. Biến mình trở thành người "không ai thay được" chỉ tăng lên sự lệ thuộc lẫn nhau giữa công ty và bản thân, một điều không lợi cho ai cả. Ngược lại, nhà doanh nhân khôn khéo đã tạo cho mình sự chủ động thời gian khi công việc đã phát triển, anh có cơ may đem những thành tựu của bản thân phục vụ lại cho chính mình và cho xã hội. Đó là chân hạnh phúc.

Cuối cùng nhà kinh doanh phải biết rút lui kịp thời trước khi sức khỏe suy sụp. Với sự thành đạt, lòng tự tin, kinh nghiệm và của cải trong tay, nhà doanh nhân vươn tầm nhìn đến cái toàn thể. Anh sẽ tận dụng tất cả khả năng, trên mặt vật chất cũng như tâm linh, để hiểu ngộ về đời sống vốn vô cùng lớn rộng. Anh sẽ hiều quả thực con người ai cũng đi tìm hạnh phúc, nhưng mỗi người quan niệm hạnh phúc một cách khác nhau. Lúc đó có lẽ anh sẽ mừng vui tự thấy rằng, hạnh phúc của anh đang nằm trong tầm tay viø nó quá dễ có. Anh nhận ra hạnh phúc chỉ là sự tri túc. Biết "như thế là đủ" chính là chân hạnh phúc. Xưa kia anh không biết thế, lớp trẻ sau anh không mấy ai nghĩ thế. Người thành đạt có một ưu điểm to lớn là dễ đến với sự "tri túc", lý do là anh đã hưởng hết mọi thứ. Nhưng anh phải biết rút lui, anh phải biết tiết giảm lòng ham muốn.

Anh sẽ nhớ đến nhà hiền triết Hy Lạp Epicurus (341-270 trước công nguyên), bậc thầy lỗi lạc của thời cổ đại, đã nói rất sớm về hạnh phúc và dục lạc. Epicurus nói rằng, đối với người đã thành đạt thì muốn cho họ hạnh phúc, ta không nên mong cho họ được thêm, mà mong cho họ được bớt, bớt đi lòng mong cầu. Người xưa đã biết thế nào là chân hạnh phúc.

Anh sẽ chợt hiểu một điều rất giản đơn: hạnh phúc là một cảm giác nội tâm, nó không đến từ bên ngoài mà từ bên trong. Hoàn cảnh bên ngoài chỉ tạo điều kiện cho bên trong phản ứng để sinh ra hạnh phúc hay đau khổ. Sự phản ứng của bên trong lại thay đổi tùy theo tuổi tác, kinh nghiệm và sự già giặn của anh. Anh đã đến một thời điểm trong đời để thấy rằng, miønh càng ít mong cầu mình càng hạnh phúc. Và có lẽ anh sẽ đến một thời điểm để nhận ra rằng, miønh có thể chỉ quan sát và ghi nhận hoàn cảnh thôi mà không phản ứng gì cả. Lúc đó anh sẽ hạnh phúc nhất. Dạng đó của tâm được gọi là Định.

Nguyễn Tường Bách

Thứ Hai, 31 tháng 5, 2010

Bài học từ khủng hoảng



Nền kinh tế toàn cầu không thể thoát khỏi quy luật tăng trưởng rồi suy tàn. Khi khủng hoảng xảy ra, người ta coi đó như hậu quả tất yếu sau một kỳ tăng trưởng nóng và là dấu hiệu tốt cho thấy một sức sống mới sắp bắt đầu.

Từ đó, khủng hoảng được coi là biện pháp đào thải hiệu quả để loại bỏ một số phần tử yếu kém, lạc hậu và chỉ có những gì thực sự khỏe mạnh mới có thể tồn tại.

Có người cho rằng nguyên nhân khủng hoảng là do cách điều hành nền kinh tế thiếu hợp lý sau một thời gian phát triển quá nóng. Có người lại nói khủng hoảng là kết quả của những mưu đồ chính trị hoặc trục lợi của một số tổ chức, cá nhân có tầm ảnh hưởng tài chính rộng lớn. Keynes - nhà quý tộc đại diện cho bộ tài chính nước Anh, đồng tác giả cùng với các ngân hàng tư bản tạo ra cuộc Đại Suy thoái năm 1929, đã lập luận rằng: “Làm đồng tiền giảm giá, tạo ra lạm phát liên tục là có thể kín đáo tước đoạt một phần tài sản của công dân. Trong quá trình bần cùng hóa nhân dân, một số ít người sẽ giàu to. Không có thủ đoạn nào lại có thể lật đổ chính quyền một cách kín đáo, chắc chắn và thành công bằng lạm phát. Quá trình này tích lũy các nhân tố phá hoại theo quy luật kinh tế. Hàng triệu người chưa chắc đã có một người nhận ra nguồn gốc của vấn đề”.

Trong con người luôn tồn tại cái thiện và cái ác, lòng tham và lòng nhân từ. Chu kỳ tăng trưởng và suy thoái kinh tế chính là kết quả đấu tranh bên trong bản chất của con người. Cho dù nguyên nhân có là do chính sách sai lầm vô tình hay cố ý thì việc xác định bản chất của khủng hoảng và tăng trưởng sẽ giúp ta phòng tránh trước những hậu quả suy thoái kinh tế nặng nề.

Có nhiều dấu hiệu tăng trưởng và biện pháp điều tiết của các nhà hoạch định chính sách sớm bộc lộ một chu kỳ khủng hoảng sắp bắt đầu: Tiền được phát minh để phục vụ cho nhu cầu cần thiết của việc trao đổi hàng hóa. Lịch sử đồng tiền đã trải qua hàng nghìn năm phát triển với những quy định trong một trò chơi mà người ta thường gọi là chính sách tiền tệ. Ai nắm quyền kiểm soát đồng tiền sẽ nắm quyền kiểm soát vận mệnh quốc gia. Điều tiết tiền tệ là công cụ mang lại nhiều lợi ích to lớn cũng như hậu quả khó lường đòi hỏi nhà hoạch định chính sách phải biết sử dụng thành thạo và tùy biến trong từng trường hợp.

Một chế độ tiền tệ nới lỏng trong thời gian dài với những chính sách bơm tiền ra ngoài xã hội, duy trì vay nợ với lãi suất thấp... sẽ tạo ra một lượng tiền ảo lớn vượt quá thực tế giá trị của cải xã hội, dẫn đến hậu quả tất yếu là lạm phát. Khối lượng hàng hóa do xã hội sản xuất là có hạn, do bị đầu cơ và sử dụng vô tội vạ đã dẫn đến khan hiếm và đẩy giá thành tăng vọt. Giá trị đồng tiền bị giảm sút nghiêm trọng. Khi đó luồng tiền tất nhiên sẽ chảy vào những nơi lưu giữ mà giá trị của nó ít bị ảnh hưởng như vàng, trái phiếu chính phủ...

Tính mất cân đối trên toàn cầu giữa các nước giàu thực sự do của cải vật chất và các nước giàu do tiêu dùng giá trị ảo của đồng tiền. Nói cách khác, trung tâm của khủng hoảng sẽ xảy ra ở những nơi mà nền kinh tế phát triển dựa trên đầu cơ dàn trải, luồng vốn chảy vào ồ ạt, các chế độ kiểm soát tiền tệ nới lỏng nhằm phát triển kinh tế với giá trị ảo. Trên thương trường, đồng tiền luôn sinh lời, chính vì vậy khi một luồng vốn lớn tích tụ tại một nơi sẽ dẫn đến việc phải xoay xở để tìm phương cách đầu tư. Lòng tham của con người chạy theo lợi nhuận ảo sẽ dẫn đến khủng hoảng bong bóng.

Chính sách hoạch định phát triển kinh tế luôn quyết định chu kỳ của khủng hoảng. Việc vay mượn luồng vốn từ nước ngoài hoặc từ các tổ chức để phát triển kinh tế thiếu kiểm soát sẽ dẫn đến bùng nổ kinh tế ảo và xảy ra khủng hoảng. Thay vì dùng tiền vay mượn để đầu tư vào việc nâng cao giá trị sản xuất, hoặc chất xám của con người nhằm tăng khả năng cạnh tranh và sáng tạo, làm ra của cải vật chất đích thực cho xã hội sau khi đã trả gốc và nợ vay, thì một số nước lại dùng tiền vay mượn để đầu cơ vào những giá trị ảo như bất động sản, vẽ ra các dự án để đầu tư và bán lại kiếm lời, cho vay lãi, đầu tư vào chứng khoán... dẫn đến khủng hoảng là tất yếu.

Nhiều người cho rằng phương cách mà Mỹ đang làm là bơm tiềm ra để đối phó với khủng hoảng hiện nay nhằm kích thích lại tiêu dùng, nâng cao sản xuất... đẩy nền kinh tế đi lên sẽ là nguyên nhân cho các cuộc khủng hoảng kế tiếp. Xét về ngắn hạn thì dân Mỹ hiện nay thấy cuộc sống được cải thiện rõ nhưng về tương lai dài hạn thì việc vay mượn từ phát hành trái phiếu, in tiền, kêu gọi đầu tư,... sẽ là gánh nặng trả nợ cho thế hệ trẻ của Mỹ sau này. Thói quen tiêu dùng sẽ ăn sâu vào phong cách sống với những giá trị ảo của người dân dẫn đến một vòng luẩn quẩn “Phát triển - nóng - lạm phát - trì trệ - khủng hoảng - phát triển trở lại”.

Chính trị và kinh tế luôn ảnh hưởng qua lại với nhau. Kết quả tăng trưởng ấn tượng hay suy thoái của nền kinh tế là bệ phóng tốt cho sự công kích của các đảng phái tranh giành quyền lực ở mọi nước tư bản. Lợi dụng tình hình kinh tế để đưa ra những chính sách đánh vào tâm lý mong đợi của dân chúng là cách tốt nhất để giành phiếu bầu. Có thể mỗi đảng đều có lý lẽ riêng nhưng nếu họ vẫn đi theo đường lối chung là phát triển kinh tế dựa vào đầu tư giá trị ảo thay vì kích thích sản xuất của cải vật chất thực sự cho xã hội thì kết quả vẫn sẽ giống nhau.

Các sự kiện lớn là cơ hội phát triển kinh tế nhưng đôi khi lại là hậu họa nếu không biết tận dụng đúng cách. Olympic là một cơ hội vàng cho sự phát triển kinh tế của bất cứ quốc gia chủ nhà nào nắm quyền đăng cai. Trung Quốc là một trong những nước tận dụng cơ hội vàng thành công trong năm 2008 vừa qua. Bốn năm chuẩn bị là bốn năm để nước đăng cai nâng cao môi trường sống, văn hóa, trang thiết bị vật chất, công nghệ, khả năng tài chính kinh tế. Đó là cơ hội vàng để kêu gọi đầu tư về tiền bạc, công nghệ, quảng bá hình ảnh của đất nước, phát triển du lịch, tạo công ăn việc làm và xây dựng cơ sở hạ tầng cũng như nâng cao đời sống dân sinh. Trung Quốc đã có một bước phát triển thần kỳ trong bốn năm với tốc độ phát triển hai con số thật ấn tượng. Tuy nhiên nhiều chuyên gia kinh tế lại cho rằng, đằng sau sự phát triển thần kỳ đó, Trung Quốc sẽ phải đối mặt với tình hình nền kinh tế phát triển chậm lại giống như những nước từng là chủ nhà của Olympic trước đây nếu không có chính sách phát triển đúng đắn.

Việc đẩy mạnh đầu tư trước Olympic cùng với sự gia tăng về doanh số, doanh thu, hoạt động đầu tư và tiêu dùng sẽ có xu hướng chững lại sau kỳ Olympic. Sử dụng chi phí bảo trì của các dự án khổng lồ chỉ phục vụ cho kỳ Olympic sẽ là một gánh nặng gây ra nhiều lãng phí to lớn và lâu dài. Riêng ngành kinh doanh khách sạn sẽ bị sụt giảm nghiêm trọng do lượng đầu tư vào dịch vụ du lịch nở rộ chỉ phục vụ cho một lượng khách đột biến trong kỳ Olympic.

Những chất xúc tác khó kiểm soát như thiên tai, dịch bệnh, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên cũng góp phần làm thổi bùng ngọn lửa khủng hoảng. Sau một thời gian dài phát triển kinh tế nóng, nhu cầu tiêu dùng của xã hội tăng cao sẽ khiến cho nhu cầu về sử dụng tài nguyên như dầu lửa, đồ ăn thức uống ngày một lớn. Tuy nhiên vì mức sản xuất của xã hội và tài nguyên có hạn do con người chú trọng đầu cơ vào những giá trị ảo như bất động sản, chứng khoán nên giá cả các mặt hàng thiết yếu ngày một tăng. Giá trị đồng tiền vì thế mà ngày càng sụt giảm do đã vượt quá giá trị thực. Thiên tai và dịch bệnh ập đến cộng với giá cả các mặt hàng lương thực, dầu lửa, v.v… tăng cao khiến cho cuộc sống khó khăn, sức lao động giảm sút, sức khỏe của nền kinh tế bị ảnh hưởng. Vì nội tại của nền kinh tế đã phát triển quá nóng nên khi bị những yếu tố ngoại cảnh tác động sẽ bộc lộ bản chất yếu kém.

Có nhiều phương thức thường được áp dụng để vượt qua khủng hoảng kinh tế do chính sách tiền tệ gây ra. Trải qua những biến cố khủng hoảng lịch sử, ta thấy có một số phương thức chống khủng hoảng chung thường được áp dụng. Tuy nhiên, tùy từng đợt khủng hoảng khác nhau, các nhà hoạch định chính sách lại bổ sung thêm phương thức chống khủng hoảng đặc trị phù hợp với hoàn cảnh. Phương thức chống khủng hoảng giống như một đơn thuốc mà những thầy thuốc là nhà hoạch định chính sách có thể gia giảm thêm một số loại thuốc phụ trợ bên cạnh những loại thuốc chính để điều trị hiệu quả nhất cho căn bệnh khủng hoảng và suy thoái kinh tế vào từng giai đoạn khác nhau. Trong đó các phương thức phổ biến như:

- Thắt chặt chế độ tiền tệ: Đây là biện pháp được dùng đầu tiên và chính yếu trong tình trạng nền kinh tế đang phát triển quá nóng, lạm phát gia tăng. Các ngân hàng cho vay quá nhiều dẫn đến tình trạng thiếu lượng vốn cần thiết để duy trì hoạt động hay nói cách khác là thiếu tính thanh khoản trong hệ thống ngân hàng. Ngân hàng thể hiện sức khỏe của nền kinh tế, khi nó ốm yếu có nghĩa là nền kinh tế đang lâm nguy.

- Tiết kiệm chi tiêu: Trong lúc khó khăn, tiết tiệm được coi là quốc sách. Tại sao mỗi khi khó khăn con người mới nghĩ đến tiết kiệm như một giải pháp chứ không phải là một thói quen? Nếu mọi người đừng tiêu xài hoang phí và sử dụng tiền không phải của mình đầu tư nhằm sinh lời ảo thì có lẽ đã không xảy ra khủng hoảng kinh tế. Khi khủng hoảng, con người mới nhận thấy rõ nhất giá trị thực của nền kinh tế, giá trị thực tài sản của mình và bắt đầu biết quý trọng, tiết kiệm những đồng tiền mồ hôi nước mắt khi chi tiêu.

- Cơ cấu lại danh mục đầu tư: Hơn lúc nào hết, trong thời kỳ khủng hoảng, nền kinh tế suy thoái, các nhà đầu tư và tổ chức càng cần phải xem xét lại danh mục đầu tư, duy trì những khoản đầu tư mang lại hiệu quả cao, và cắt giảm một số khoản không cần thiết. Điều quan trọng là nhà đầu tư cần phải biết đâu là danh mục cần loại bỏ và đâu là danh mục nên giữ lại, để đầu tư sao cho hiệu quả và hợp lý, tránh ít nhất những thiệt hại có thể xảy ra. Thông thường, các nhà đầu tư sẽ chuyển đổi từ những danh mục đầu tư đã phát triển nóng như bất động sản, chứng khoán sang những khoản mục an toàn hơn là vàng, đôla, trái phiếu Chính phủ và tiết kiệm.

- Công bố các gói kích thích kinh tế phát triển: Đây là một phương thức không thể thiếu trong việc chống lại suy thoái kinh tế sau thời kỳ khủng hoảng. Việc thắt chặt chính sách tiền tệ và những hệ lụy do khủng hoảng hệ thống tài chính gây ra, đã ảnh hưởng trực tiếp tới mọi doanh nghiệp, người dân và đặc biệt là những người nghèo. Các phương thức tiếp cận nguồn vốn để duy trì hoạt động kinh doanh, sinh hoạt thường nhật của người dân với những mặt hàng thiết yếu ngày càng trở nên khó khăn hơn. Đây là lúc chính phủ cùng quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), ngân hàng thế giới (WB) hỗ trợ cho vay một lượng tiền lớn để phát triển đầu tư công, nâng cao đời sống an sinh xã hội của người dân đặc biệt là những người nghèo hoặc thất nghiệp, tạo điều kiện giúp các doanh nghiệp trước đây làm ăn hiệu quả, có thang điểm tín dụng an toàn và những doanh nghiệp có ảnh hướng lớn đến nền kinh tế-xã hội được vay vốn để vượt qua khó khăn. Điều khác biệt của việc bơm tiền sau khủng hoảng nhằm ngăn chặn đà suy thoái đó là tập trung tiền để kích thích xã hội làm ra của cải thực sự nhằm nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần của toàn dân thay vì bơm tiền để đầu cơ vào những giá trị ảo như đất đai, chứng khoán như trước đây.

- Cùng đoàn kết hợp tác chống khủng hoảng kinh tế: Hơn lúc nào hết, các quốc gia và tổ chức cần phải cùng phải chung tay để vượt qua khủng hoảng và suy thoái. Các tổ chức như G20, ASeam... đã họp bàn với nhau để cùng tìm ra phương hướng, dự báo và cách thức hỗ trợ lẫn nhau. Lý do chính khiến các nước phải cùng nhau thảo luận là vì quan hệ chính trị và ảnh hưởng qua lại ràng buộc giữa các nền kinh tế. Trong thời đại toàn cầu hóa, hệ thống tài chính, đầu tư, chứng khoán... của các nước liên kết với nhau khá chặt chẽ và sâu rộng. Một tập đoàn đa quốc gia bị sụp đổ tại một chi nhánh thì lập tức toàn bộ tập đoàn bị ảnh hưởng. Suy thoái kinh tế xảy ra tại một đất nước lớn mạnh như Mỹ khiến cho nhiều công ty mẹ ở đó bị sụp đổ, các công ty con ở những quốc gia khác cũng bị ảnh hưởng nghiệm trọng do vốn bị rút về nước. Toàn cầu hóa chính là lý do cấp thiết để các quốc gia cùng nhau hợp tác chống khủng hoảng.

(Trích cuốn sách "Giấc mơ trứng vàng" do Alpha Books ấn hành)