Hiển thị các bài đăng có nhãn 14.Âm nhạc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn 14.Âm nhạc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 24 tháng 12, 2011

Lễ Giáng Sinh




Lễ Giáng-Sinh là lễ kỷ-niệm ngày sinh-nhật của Chúa Jesus. Tuy lễ Giáng-Sinh là ngày lễ của những người theo đạo Thiên-Chúa, nhưng cứ đến ngày lễ này thì mọi người, bất cứ theo đạo nào, cũng được hưởng niềm vui tự-nhiên do không khí Giáng-Sinh mang lại.

Không phải chỉ những người tin theo đạo Thiên-Chúa mới đi lễ nhà thờ, chăng đèn kết hoa trước nhà, và trưng-bầy cây Nô-En (Noel) trong phòng khách mà mọi người dù theo bất-cứ đạo nào cũng tổ-chức ăn-mừng lễ Giáng-Sinh. Người người đều vui, cảm-thông, và hưởng trọn niềm ấm-cúng thanh-bình cùng yêu thương trong mùa Giáng-Sinh đầy hy-vọng vì Mùa Giáng-Sinh đã tạo cơ-hội giúp mọi người bỏ hết những hận-thù và ích-kỷ nhỏ-nhen nếu có mà họ không thể thực-hiện trước đó được.

Có rất nhiều người cảm-thông ý-nghĩa của mùa Giáng-Sinh một cách tự-nhiên mà không thắc-mắc hay băn-khoăn gì. Nhưng nếu tìm-hiểu thêm ý-nghĩa của Lễ Giáng-Sinh, Cây Nô-En, và Ông Già Nô-En, chúng ta sẽ thấy thú-vị vô cùng.

I. Lễ Giáng-Sinh

Tiếng Anh gọi Lễ Giáng-Sinh là Christmas, tiếng Anh cổ thời xưa gọi Lễ Giáng-Sinh là Cristes Maesse. Từ Cristes Maesse có nghĩa ngày lễ của Chúa (Christ's Mass). Ngày Lễ Giáng-Sinh được tổ-chức vào 25 Tháng 12 dương-lịch để kỷ-niệm ngày sinh của Chúa Jesus Christ và được coi là ngày nghỉ lễ chính-thức của các nước có người theo đạo Thiên-Chúa.



Câu truyện về ngày sinh của Chúa Jesus có tên bằng tiếng Anh là Nativity. Chúa Jesus do Đức Mẹ Đồng-Trinh tự-nhiên mang thai mà sinh ra. Sự thụ-thai này do quyền-lực thần-diệu của Thượng-Đế tạo ra trong khi bà Mary còn đồng-trinh. Chúa Jesus được sinh ra trong một chuồng ngựa (stable) tại Bethlehem và được đặt trong máng cỏ (manger) vì lúc đó trong nhà trọ (inn) không còn một phòng trống nào. Sau đó, Chúa Jesus được Đức Mẹ Mary và chồng của bà là Joseph nuôi-nấng tại Nazareth, một thành phố ở phía bắc Israel. Khi được 12 tuổi, Chúa Jesus đến giáo-đường ở Jerusalem và đã làm kinh-ngạc các giáo-sư về môn Mosaic Law với sự hiểu biết của ngài.

Khi lớn lên, Chúa Jesus chọn được 12 người Tông-Đồ cùng ngài đi khắp nơi ở Palistine để giảng đạo, chữa bệnh, và thực-hiện các phép-lạ. Một trong những phép-lạ đó là phép “Loaves and Fishes”(những ổ bánh mì và những con cá). Chuyện phép-lạ này được người ta truyền lại là khi Chúa Jesus thuyết-giảng ở một đám đông trong lúc họ rất đói, người ta chỉ tìm thấy 5 ổ bánh mì và 2 con cá. Thế mà nhờ Chúa Jesus làm phép trên 5 ổ bánh mì và 2 con cá này rồi ra-lệnh cho các đệ-tử của ngài phân-phát đồ ăn cho tất cả mọi người. Sau khi mọi người được phát đầy-đủ đồ ăn và ăn một cách no- nê, người ta thấy 12 chậu đồ ăn vẫn còn đầy.

Nhờ việc đi rao giảng lời của Thượng-Đế, ngài đã có rất nhiều tín-đồ và đồng-thời cũng có nhiều kẻ thù. Cuối cùng, Chúa Jesus bị tên Judas Iscariot phản-bội, bị Pontius Pilate - người lãnh-đạo dân Do-Thái lúc bấy giờ kết-án, và bị chính-quyền La-Mã đóng đinh trên thập-tự giá. Những người Thiên-Chúa giáo tin là ngài đã cải-tử hoàn-sinh và sự phục-sinh này đã cứu-vớt được bao linh-hồn.

Theo những tài-liệu liên-quan tới ngày sinh-nhật của Chúa Jesus, người ta thấy Chúa Jesus không phải sinh vào ngày 25 tháng 12 mà có thể vào tháng 4 hay tháng 5 và có lẽ trước đó 3 năm. Tây-lịch được tính theo năm đầu-tiên sau khi Chúa sinh ra đời. Theo niên-giám La-Mã, Lễ Giáng-Sinh đầu-tiên được tổ-chức ở La-Mã vào năm 336 Tây-Lịch Kỷ-Nguyên. Tuy-nhiên, ở miền đông đế-quốc La-Mã, một buổi lễ được tổ-chức vào ngày 6 tháng giêng để kỷ-niệm chung cho ngày sinh-nhật và ngày rửa-tội của Chúa Jesus. Cũng vào ngày 6 tháng giêng này ở Jerusalem thuộc Do-Thái (Israel) người ta chỉ tổ-chức lễ kỷ-niệm ngày sinh-nhật của Chúa mà thôi.

Mãi vào thế kỷ thứ IV, hầu-hết các nhà thờ ở miền đông đế-quốc La-Mã mới chấp-nhận tổ- chức sinh-nhật Chúa Jesus Christ vào ngày 25 tháng 12. Trong lúc ấy ở Jerusalem, người ta vẫn chống-đối việc tổ-chức Lễ Giáng-Sinh. Nhưng về sau này, Lễ Giáng-Sinh lại được chấp-nhận ở Jerusalem. Các nhà thờ ở nước Armenia, một nước ở Tây-Á, đã không chấp-nhận Lễ Giáng-Sinh. Họ tổ-chức ngày sinh-nhật của Chúa vào 6 tháng giêng. Sau khi Lễ Giáng-Sinh, 25 tháng 12, được thiết- lập ở miền đông đế-quốc La-Mã, ngày kỷ-niệm lễ rửa-tội của Chúa được tổ-chức vào 6 tháng giêng, ngày mà ba vị thông-thái (Magus) từ miền đông đế-quốc La-Mã đến Bethlehem để chiêm-ngưỡng Chúa Hài-Đồng.

Những tục-lệ cổ-truyền về Lễ Giáng-Sinh bắt nguồn từ sự trùng-hợp ngày sinh của Chúa với những ngày lễ kỷ-niệm về nông-trang và mặt trời vào mùa đông (Winter Solstice) của những người không theo đạo Thiên-Chúa.

Ở La-Mã, ngày 17 tháng 12 là ngày lễ Saturnalia để kỷ-niệm thần Saturn. Đây là thời-gian ăn chơi tưng-bừng nhất và là dịp để mọi người trao-đổi quà kỷ-niệm. Ngày 25 tháng 12 cũng được coi là ngày sinh-nhật của Thần Mithra, Thần Toàn-Chân Thái-Dương, thuộc xứ Ba-Tư. Năm mới của người La-Mã là ngày 1 tháng giêng dương-lịch. Vào những dịp này người ta trang-hoàng nhà cửa bằng cây lá xanh tươi và hoa đèn rực-rỡ. Trẻ con và người nghèo được trao quà tặng.

Lửa, đèn, và nến là vật tượng-trưng của sự ấm-cúng và sự sống, nó luôn-luôn liên-hệ với các lễ-lạc vào mùa đông của cả những người theo đạo Thiên-Chúa và các đạo khác. Từ thời trung-cổ, cây thông, một loại cây vạn-niên-thanh, là biểu-hiệu cho sự sống và luôn-luôn liên-hệ với Lễ Giáng-Sinh.

II. Cây Nô-En



Tiếng Nô-En mà người Việt ta thường dùng bắt nguồn từ chữ Pháp là “Noel” và có nghĩa là Giáng-Sinh. Cây Nô-En có tên bằng tiếng Anh là Christmas Tree. Cây Nô-En thường là cây thông nhân-tạo làm bằng ni-lông (nylon) hay là cây thông thật được chặt ở rừng đem về nhà. Người ta trang- trí cây thông này bằng dây đèn đủ màu cùng với các đồ trang-hoàng khác như giấy bạch-kim để giả làm tuyết-phủ, kẹo xanh trắng đỏ có hình cây gậy ba-toong (candy canes), các gói quà giả, các quả bóng nhỏ đủ màu làm bằng thủy-tinh, hình thiên-thần, và cây thánh-giá, v.v. Cây thông sau khi được trang-hoàng như thế có tên là cây Nô-En. Dưới chân cây Nô-En người ta có các gói quà do những người trong gia-đình mua để tặng cho nhau. Cây Nô-En là một thứ không thể thiếu được trong mùa Giáng-Sinh.

Việc dùng cành thông và vòng hoa kết bằng lá xanh (wreath) treo ở mặt ngoài cánh cửa nhà để biểu-lộ sự ước-mong vĩnh-cửu cho đời sống con người là cổ-tục của người Ai-Cập (Egyptian), Trung-Hoa, và Do-Thái. Việc tôn-thờ cây thông và vòng hoa rất được thông-dụng ở Châu-Âu đối với người không theo đạo Thiên-Chúa. Tục-lệ này vẫn còn tồn-tại sau khi họ nhập-đạo Thiên-Chúa.

Người ở các nước Thụy-Điển, Đan-Mạch, và Na-Uy, gọi chung là người Scandinavian, thường trang-hoàng nhà-cửa và vựa lúa với các loại cây vạn-niên-thanh vào dịp năm mới để xua đuổi ma-quỉ. Họ còn dựng cây cho chim trú ngụ trong mùa Giáng-Sinh. Phong-tục này còn có ở Đức. Người ta đặt cây Nô-En ngay ở lối ra vào hay ở trong nhà vào những ngày nghỉ lễ giữa mùa đông.

Cây Nô-En hiện-đại ngày nay có được là do phong-tục của Tây-Đức. Cái khung-cảnh chính của vở kịch nổi tiếng hồi trung-cổ về sự-tích Ông Adam và Bà Eve là một cây thông có treo những quả táo gọi là Cây Thiên-Đàng tượng-trưng cho Vườn Địa-Đàng (Garden of Eden). Người Đức dựng Cây Thiên-Đàng (Paradise Tree) trong nhà vào ngày 24 tháng 12, ngày hội tôn-giáo, để kỷ-niệm Ông Adam và Bà Eve. Người ta treo những miếng bánh bít-qui (biscuit) gọi là wafers trên Cây Thiên-Đàng tượng-trưng cho dấu-hiệu của Chúa Jesus đứng ra chuộc tội cho nhân-loại. Sau này người ta thay thế bánh Wafers bằng bánh cúc-ki (cookie) có đủ hình-dáng khác nhau. Cả những cây đèn-cầy hay nến cũng được dùng làm biểu-tượng của Chúa đứng ra chuộc tội cho nhân-loại.

Trong cùng một phòng có trưng-bày cây Nô-En vào mùa Giáng-Sinh, người ta còn dựng một Kim-Tự-Tháp Giáng-Sinh (Christmas Pyramid). Đây là một cấu-trúc bằng gỗ hình tam-giác với các kệ để đồ (shelves). Bên trên các kệ này có bày các pho-tượng nhỏ và trang-trí bằng cây vạn-niên-thanh, đèn cầy, và một ngôi sao. Vào khoảng thế-kỷ thứ 16 thì Christmas Pyramid và Paradise Tree được kết-hợp lại thành cây Nô-En (Chistmas Tree). Phong-tục này đã được thịnh-hành trong giáo-phái Tân-Giáo của Luther ở Đức vào thế-kỷ thứ 18. Nhưng mãi tới một thế-kỷ sau đó, cây Nô-En mới ăn rễ sâu vào truyền-thống của người Đức.

Cây Nô-En được du-nhập vào đất Anh từ đầu thế-kỷ thứ 19 và rất được thịnh-hành vào giữa thế-kỷ đó. Sở-dĩ được như vậy là nhờ công của Hoàng-Tử Albert, chồng Nữ-Hoàng Victoria. Ở Anh, vào thời đó, người ta gọi cây Nô-En là Victorian Tree. Cây Victorian Tree được trang-trí bằng đèn cầy, kẹo, cùng các thứ bánh đặc-biệt treo ở cành cây bằng dây băng (ribbon) hay dây giấy đủ màu.

Phong-tục trưng-bầy cây Nô-En vào dịp Giáng-Sinh đã được những người di-dân gốc Đức mang vào Bắc-Mỹ từ đầu thế-kỷ thứ 17. Sau đó cây Nô-En được thịnh-hành nhất vào thế kỷ thứ 19. Cây Nô-En còn thịnh-hành ở Austria, Switzerland, Poland, và Holland trong giai-đoạn này. Ở Trung- Hoa, Nhật-Bản, và Việt-Nam, phong-tục trưng-bày cây Nô-En là do các nhà truyền-giáo Âu-Tây mang vào từ thế-kỷ thứ 19 và 20.

III. Ông Già Nô-En

Từ thủa bắt-đầu, Ông Già Nô-En có tên là “Saint Nicholas.” Theo truyền-thuyết thì Ông Già Nô-En Nicholas có lẽ là một vị Giám-Mục người Hy-Lạp ở vào thế-kỷ thứ 4. Nicholas được nổi-tiếng về lòng tốt của ông. Tuy-nhiên các nhà sử-học không thể xác-quyết sự-kiện về đời sống cũng như sự hiện-hữu của ông. Trong tiếng Anh, Ông Già Nô-En có tên là “Santa Claus.” Tiếng “Santa Clause” được dịch từ tiếng Đức “Sinter Klaes.” Trong tiếng Pháp, Ông Già Nô-En có tên là “Le Père Noel.”



Truyện thần-thoại về Ông Già Nô-En kể rằng Santa Claus tặng quà một cách bí-mật cho những người gặp cảnh khó-khăn. Ngoài-ra, Ông Già Nô-En còn có những tên như Nicholas of Bari và Nicholas of Myra. Theo tục-truyền, Ông Già Nô-En được sinh-ra ở hải-cảng cổ Lycia của thành-phố Patara thuộc Tiểu-Á Tế-Á (Asia Minor). Khi còn trẻ, Ông Già Nô-En đi du-lịch đến Palestine và Egypt. Ông trở thành Giám-Mục của thành phố Myra, Lycia, thuộc Tiểu-Á Tế-Á. Ông bị tù trong vụ hành-hạ những người Thiên-Chúa-Giáo thuộc triều-đại Hoàng-Đế La-Mã Diocletian. Sau đó, ông được thả ra vào triều-đại vua Constantine Đại-Đế (Thế-Kỷ Thứ 4) và tham-dự Hội-Đồng Lần Thứ Nhất của Nicaea, Council of Nicaea, vào năm 325 dương-lịch. Nicaea là một thành-phố của Bithynia thuộc Asia Minor. Hội-Đồng Council of Nicaea có mục-đích xác-nhận lòng tin vào Thiên-Chúa và kết-tội chủ-thuyết Arianism, một chủ-thuyết chối bỏ Chúa Jesus.

Vào thế-kỷ thứ 6, lăng-tẩm của ông Già Nô-En rất nổi-tiếng ở Myra thuộc Tiểu-Á Tế-Á. Vào năm 1087, những người thủy-thủ và lái-buôn Ý đã cải-táng ngôi mộ của ông và mang di-hài ông về Bari, Ý-Đại-Lợi. Sự cải-táng này đã là một sự-kiện lịch-sử và được người ta làm lễ kỷ-niệm hằng năm vào ngày 9 tháng 5 dương-lịch. Từ đó tiếng-tăm của ông được truyền đi khắp nơi và Bari đã trở nên một trung-tâm hành-hương đông-đảo nhất. Lăng-tẩm của ông được đặt tại Đại Giáo-Đường thuộc South Nicala, Bari, Ý Đại-Lợi .

Truyền-thuyết về Ông Già Nô-En càng ngày càng nhiều. Chuyện đầu-tiên được kể về một phép-lạ rất nổi-tiếng là khi ba vị sĩ-quan bị kết-án tử-hình rồi lại được tha sau khi Vua Constantine Đại-Đế nằm mơ thấy Nicholas. Kế đến là những chuyện người ta kể là Ông Già Nô-En đã từng cứu những trẻ em khỏi bao thảm-họa. Lòng ngưỡng-mộ đối với Ông Già Nô-En bành-trướng ra khắp thế- giới. Tên của ông được dùng để đặt tên cho rất nhiều nơi ở các nước. Tên họ của nhiều người cũng bắt nguồn từ tên Nicholas như: Nichols, Nicholson, Colson, và Collins.

Ông Già Nô-En đã được chọn làm vị thánh hộ-mệnh của nước Nga, Hy-Lạp, các hội từ- thiện, các công-đoàn, các trẻ em cùng thủy-thủ đã được cứu vớt lên khỏi bờ biển Lycia, và các thành- phố như Fribourg, Switz, và Moscow. Đã có hàng ngàn nhà thờ ở Châu-Âu được xây lên để thờ Ông Già Nô-En, trong đó có một nhà thờ do Hoàng-Đế La-Mã Justinian Đệ-Nhất xây vào thế-kỷ thứ 6 ở đô-thị cổ Constantinople, bây giờ là Istanbul, một thành-phố lớn nhất của Turkey (Thổ-Nhĩ-Kỳ).

Các phép-lạ của Ông Già Nô-En đã là đề-tài ưa-thích cho nhiều nghệ-sĩ thời trung-cổ. Ngày hội truyền-thống về Ông Già Nô-En trở thành cơ-hội cho các nghi-lễ của Boy Bishop, một phong-tục phổ-biến của người Âu trong đó một cậu con trai được chọn làm vị Giám-Mục và ở tại chức cho tới ngày Holy Innocents’ Day, tức ngày 28 tháng 12 dương-lịch.



Sự biến-đổi Nicholas thành Đức Cha của Lễ Giáng-Sinh (Father Christmas) hay Đức Cha của tháng giêng (Father January) đã xảy-ra lần đầu-tiên ở Đức, rồi đến các quốc-gia trong đó có Reformed Churches chiếm đa-số. Tiếp đến là ở Pháp, ngày hội Ông Già Nô-En được tổ-chức vào dịp Giáng-Sinh và Năm Mới. Những di-dân người Hòa-Lan theo đạo Tin-Lành ở thành-phố New Amsterdam, bây giờ là thành-phố New York City, đã gọi Nicholas là Nhà Ảo-Thuật Nhân-Đạo và sau trở thành Ông Già Nô-En, tức Santa Claus.

Ở Hoa-Kỳ và Anh-Quốc, Nicholas là thánh hộ-mệnh của mùa Giáng-Sinh. Theo truyền- thống, Giáng-Sinh là ngày hội của gia-đình và của trẻ con. Người ta trao-đổi quà tặng với nhau trong dịp này. Từ năm 1969, ngày hội Ông Già Nô-En không còn được ghi lên lịch, nhưng việc tổ-chức kỷ- niệm Ông Già Nô-En thì được tùy-nghi tổ-chức theo mỗi nơi.

Ngày nay tục-lệ rước Ông Già Nô-En rất thịnh-hành. Tùy theo từng địa-phương, người ta tổ- chức cuộc rước Ông Già Nô-En (Santa Claus Parade) theo các ngày khác nhau ở mỗi thành-phố, thường là vào từ trung-tuần tháng 11 trở đi cho đến giữa tháng 12 dương-lịch. Trong cuộc diễn-hành Ông Già Nô-En này, người ta làm những xe hoa thể-hiện đặc-tính của từng hội-đoàn hay các cơ-sở thương-mại và cũng thể-hiện ý-nghĩa của mùa Giáng-Sinh. Ngoài ra, người ta còn có các ban nhạc diễn-hành đi theo đám rước này để tấu lên các bài hát Giáng-Sinh. Mặc dầu thời-tiết lạnh và tuyết phủ đầy khắp không-gian mà mọi người vẫn tham-dự cuộc vui một cách tưng-bừng và náo-nhiệt.



Ở mỗi nhà vào dịp Giáng-Sinh người ta còn mua những đôi vớ hay tất (pair of socks) đỏ treo bên cạnh lò sưởi ngay chỗ ống khói. Họ tin là vào đêm Nô-En, Ông Già Nô-En sẽ cưỡi xe trượt tuyết do bầy hươu có cánh kéo từ trên trời xuống trần-gian để cho ông đem túi quà vào thăm mỗi nhà qua lỗ ống khói và bí-mật bỏ quà vào mỗi chiếc vớ cho trẻ con. Người ta tưởng-tượng ra Ông Già Nô-En với hình-dáng của một ông già béo mập, vui-vẻ, có râu bạc trắng, mặc quần áo màu đỏ, và mang túi quà phát cho trẻ con vào đêm trước ngày Lễ Giáng-Sinh (Christmas Eve).

IV. Bánh Nô-En



Bánh Noel hay bánh Buche Noel thì mãi đến năm 1875 mới xuất hiện do một người thợ làm bánh ở Pari - Pháp mô phỏng hình khúc củi trong lò sưởi (buche nghĩa là "khúc củi lò sưởi" theo tiếng Pháp) để làm ra một loại bánh ngọt và gắn cho nó cái tên bánh Noel để dễ bán.

Dần dần loại bánh này được người ta coi là một loại bánh cần có để ăn trong đêm Noel, cùng với các loại thực phẩm khác được chọn để ăn trong dịp lễ Noel tuỳ từng nơi, như gà tây hoặc ngỗng quay, lợn quay, cá chép, xôi đậu, cháo vịt nóng…

V. Hình tượng hang đá Giáng Sinh



Hình tượng hang đá Giáng sinh cũng “ra đời” sau khi Chúa Jésus giáng sinh hơn 13 thế kỷ. Số là vào năm 1223, một giáo sĩ tên là Francois Dassi đã cho xây dựng một cái hang đá trong khu rừng già Grécxiô, giống chiếc hang đá mà Chúa Jésus đã ra đời ở Bethlehem, trong đó có những hình tượng mô tả lại cảnh tượng đêm Thiên chúa giáng sinh.

Về sau, nhiều nhà thờ thấy rằng việc dựng hang đá như vậy có thể thu hút đông người tới xem và tạo ra không khí sinh động hơn trong đêm Giáng sinh nên cũng đã cho dựng hang đá Noel. Nhiều gia đình khá giả từ đó cũng đã dựng hang đá Noel trong nhà mình mỗi dịp Giáng sinh về.




Để tìm hiểu và cảm nhận thêm về ngày Lễ Giáng Sinh , mời các bạn đến với video tổ chức đêm nhạc giáng sinh của giáo xứ Đức Mẹ La Vang (Hoa Kỳ).

Phần 1 :



Phần 2 :

Thứ Bảy, 19 tháng 11, 2011

Nhớ về ngày 20-11



Thầy Và Chuyến Đò Xưa

Lặng xuôi năm tháng êm trôi
Con đò kể chuyện một thời rất xưa
Rằng người chèo chống đón đưa
Mặc cho bụi phấn giữa trưa rơi nhiều

Bay lên tựa những cánh diều
Khách ngày xưa đó ít nhiều lãng quên
Rời xa bến nước quên tên
Giờ sông vắng lặng buồn tênh tiếng cười

Giọt sương rơi mặn bên đời
Tóc thầy bạc trắng giữa trời chiều đông
Mắt thầy mòn mỏi xa trông
Cây bơ vơ đứng giữa dòng thời gian...

Ngày nhà giáo Việt Nam (hay ngày lễ Hiến chương nhà giáo Việt Nam) là một ngày kỷ niệm được tổ chức hằng năm vào ngày 20 tháng 11 tại Việt Nam. Đây là ngày lễ hội của ngành giáo dục và là ngày "tôn sư trọng đạo" nhằm mục đích tôn vinh những người hoạt động trong ngành này. Trong ngày này, các học sinh thường đến tặng hoa và biếu quà cho các thầy cô giáo. Ngành giáo dục cũng thường nhân dịp này đánh giá lại hoạt động giáo dục và lập phương hướng nâng cao chất lượng giáo dục.

Tháng 07 năm 1946, một tổ chức quốc tế các nhà giáo tiến bộ được thành lập ở Paris đã lấy tên là Liên hiệp quốc tế các công đoàn giáo dục (tiếng Pháp: Fédération Internationale Syndicale des Enseignants - FISE).

Nǎm 1949, tại một hội nghị ở Warszawa (thủ đô của Ba Lan), Liên hiệp quốc tế các công đoàn giáo dục đã ra bản "Hiến chương các nhà giáo" gồm 15 chương với nội dung chủ yếu là đấu tranh chống nền giáo dục tư sản, phong kiến, xây dựng nền giáo dục trong đó bảo vệ những quyền lợi của nghề dạy học và nhà giáo, đề cao trách nhiệm và vị trí của nghề dạy học và nhà giáo.

Công đoàn giáo dục Việt Nam, là thành viên của FISE từ năm 1953 (hội nghị có 57 nước tham dự), đã quyết định trong cuộc họp của FISE từ 26 đến 30 tháng 8 năm 1957 tại Warszawa, lấy ngày 20 tháng 11 năm 1958 là ngày "Quốc tế hiến chương các nhà giáo". Ngày này lần đầu tiên được tổ chức trên toàn miền Bắc Việt Nam.

Khi Việt Nam thống nhất, ngày này đã trở thành ngày truyền thống của ngành giáo dục Việt Nam. Vào ngày 28 tháng 9 năm 1982, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành quyết định số 167-HĐBT thiết lập ngày 20 tháng 11 hằng năm là ngày lễ mang tên "Ngày nhà giáo Việt Nam".

Mời các bạn thưởng thức một số clip ca nhạc về tuổi học trò .



Mời nghe một số đoản văn hay về nhớ ơn thầy cô giáo .

Phần 1 : Người chuyển hướng đời tôi



Phần 2 : Người Thầy mà tôi tôn kính



Phần 3 : Ông Thầy Già



Phần 4 : Những Vết Mực Lem



Phần 5 : Yêu Thầy



Phần 6 : Thầy Của Tôi



Phần 7 : Thầy Đã Ra Đi



Phần 8 : Từ Buổi Học Đầu Tiên



Phần 9 : Nhớ Thầy



Phần 10 : Người Thầy Đầu Tiên



Phần 11 : Cô Giáo Dạy Văn



Phần 12 : Tiếng Đàn Xưa

Thứ Năm, 25 tháng 11, 2010

Tình ca Việt Nam

Kho tàng âm nhạc Việt Nam gần như đa số là những bản tình ca lãng mạn. Cũng phải có một thuở yên bình nào đó, người ta mới yêu được như thế.



Mời nghe bài viết trên đài VOA



Có nhiều người bảo rằng Việt Nam là một dân tộc lãng mạn. Cứ đọc ca dao của chúng ta để biết ra điều đó.

Đêm qua ra đứng bờ ao
Trông cá, cá lặn, trông sao, sao mờ

Và hãy đọc Kiều, Chinh Phụ Ngâm, Cung Oán Ngâm Khúc, để hiểu vì sao chúng ta không có anh hùng ca, chỉ có tình ca.

Áo chàng đỏ tựa dáng pha
Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in

Chiến tranh lan rộng và hình ảnh người lính đẹp như thế đó. Và cũng lãng mạn vô cùng trong giây phút chia tay dù có đau lòng xé ruột.

Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy hàng dâu
Hàng dâu xanh ngắt một màu
Tình chàng ý thiếp ai sầu hơn ai

Buồn và đẹp bởi có lẽ ai cũng hiểu rằng, ở nơi đâu tình ca biến mất, ở đó con người nhìn nhau không ra người nữa.

Tình ca dạy chúng ta cách yêu nhau và cả cách xa nhau nữa…

Nhạc Tiền chiến có thể coi là cái tên chung cho tất cả nhạc Việt Nam được viết trước năm 1954. Đó là thời kỳ phôi thai nhưng cũng mau chóng trở thành thời kỳ phồn thịnh của nền tân nhạc Việt Nam. Các tác giả và tác phẩm xuất hiện vào thời đó, đều tồn tại cho tới hiện nay, và chắc chắn sẽ tồn tại lâu dài nữa, vì như chúng ta đã thấy, giá trị đã được xác định qua nhiều thế hệ, qua nhiều thử thách, qua sự thăng trầm của lịch sử.

Các thế hệ trẻ so với tuổi các tác phẩm, đã có lúc tỏ ra không thích nhạc tiền chiến vì họ cho rằng nhịp điệu chậm quá. Nhưng tới một cái tuổi nào đó họ lại yêu trở lại.

Hiện tượng này vẫn còn tiếp diễn.

Dĩ nhiên mỗi thời đại, người ta sống khác nhau, suy nghĩ khác nhau. Nhưng trở lại ngọn nguồn người ta dễ dàng gặp lại nhau.

Âm nhạc là một ngọn nguồn kề cận nhất. Tình yêu là ngọn nguồn gần gũi nhất. Cũng không thể tách rời tình yêu ra khỏi quê hương được. Vì tình yêu cũng là tình hoài hương thu nhỏ.

Đoàn Chuẩn tuy được xếp chung với lớp các nhạc sĩ tiền chiến, nhưng ông xuất hiện sau những Lê Thương, Dương Thiệu Tước, Văn Cao, Phạm Duy. Các ca khúc mượt mà của ông, có một khí hậu rất Hà Nội, tung ra đời là được yêu, được hát ngay. Có thể nói Đoàn Chuẩn không viết gì khác ngoài tình ca. Tình ca của Đoàn Chuẩn chất chứa tất cả cái ngọt ngào say đắm của một người tình.

Một chiếc lá rơi, một cánh hoa rụng, một xác pháo hồng, đều phảng phất hình bóng của tình.

Nhớ tới mùa thu năm xưa gửi nhau
phong thư ngào ngạt hương
nét bút đa tình lả lơi
nhớ phút ngập ngừng lòng giấy viết rằng
chờ đến kiếp nào
tình đầu trong gió mùa
người yêu ơi

Vẫn biết chỉ ở trong một cái tuổi nào đó người ta mới có thể yêu như thế. Nhưng vì nó được ghi lại trong nhạc, chụp lại trong thơ, nên nó đã trở thành nỗi ám ảnh, nếu người ta không có được một lần trong đời, hình như người ta đã đánh mất tuổi trẻ mà không được gì cả.

Tình yêu là một thứ kho tàng quý báu, nếu người ta không kịp khám phá lúc còn trẻ, người ta sẽ nghèo khó khi già đấy!

Dù tình yêu trong nhạc ĐC chỉ là thứ tình người ta đánh mất chứ không giữ lại được. Nhưng mất là mất người yêu thôi, tình yêu vẫn còn. Và tình yêu vẫn còn nên người yêu cũng không thể mất.

Gửi gió cho mây ngàn bay
Gửi bướm muôn màu về hoa
Gửi thêm ánh trăng màu xanh lá thư
Về đây với thu trần gian

Một trong những cái đáng quý nhất của nghệ thuật là nó có thể chia sẻ hạnh phúc cho mọi người, dù nguyên cớ của nó có khi chỉ do một người mà được tạo ra.

Cái thích thú khi nghe nhạc Đoàn Chuẩn - nói riêng - nghe tình ca Việt Nam nói chung là người ta cảm thấy hạnh phúc. Cũng phải có một thuở yên bình nào đó, trong một hoàn cảnh nào đó, người ta mới yêu như thế được.

Chúng ta phải tin một điều, dù gương mặt tình yêu ngày nay có khác xưa, nhưng tình không bao giờ làm mỏng thêm tình mà chỉ làm dày thêm.

Xin cảm ơn những người nghệ sĩ đã cho chúng ta những phút giây hạnh phúc…

Mời nghe một số bản nhạc tình ca Việt Nam

Powered by eSnips.com


Thứ Năm, 11 tháng 11, 2010

Mùa Thu trong Nhạc và Thơ

Mỗi chiếc lá như một bông hoa đẹp vô cùng, đến nỗi có một nhà văn đã gọi mùa thu là mùa xuân thứ hai của trời đất.



Nghe bài viết trên đài VOA



Ngô đồng nhất diệp lạc
Thiên hạ cộng tri thu

Thấy chiếc lá ngô đồng rụng, mọi người đều biết là thu đã trở về…

Nếu ở miền Đông nước Mỹ ta có thể biết rõ thu về khi thấy lá ở các cánh rừng đã vàng ối hay đỏ rực. Mỗi chiếc lá như một bông hoa đẹp vô cùng, đến nỗi có một nhà văn đã gọi mùa thu nơi đây là mùa xuân thứ hai của trời đất.

Các văn thi sĩ Đông phương đã có một số hình ảnh diễn tả mùa thu. Những chiếc lá vàng đã bắt đầu rơi. Một vài cánh nhạn từ phương xa bay về. Hoa cúc đã nở bên liếp dậu thưa. Sương đã bao phủ cảnh vật và rừng phong đã xơ xác lá. Riêng Lưu Trọng Lư đã vẽ lại một cảnh thu đầy những âm thanh

Em không nghe mùa thu
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô

Hình ảnh con nai vàng thẫn thờ đạp trên thảm lá khô xào xạc tạo nên những âm thanh buồn bã của mùa thu tựa như một nỗi tiếc nhớ xa xôi…

Mùa thu của Việt Anh không còn nữa nhưng hình ảnh thu xưa cứ làm vương vấn mãi. Vâng, Không Còn Mùa Thu, ca khúc của Việt Anh qv&cb vừa thưởng thức trong giọng hát Hồng Nhung…

Ở Đông phương, sự cảm thông giữa thiên nhiên và con người thật sâu sắc. Mỗi mùa màng như một người bạn cũ cứ đến hẹn lại về. Mỗi lần thu tới, ta vẫn nghĩ rằng mùa thu năm nào của ta lại trở về thăm ta.

Mùa thu vẫn luôn luôn là một cái gì đó xa xôi, kín đáo, bình dị và mênh mông, cho nên thu bao giờ cũng xưa. Ta thấy như thu ở thời xưa mà về. Và ta cũng thấy lòng lắng dịu, bình yên.

Thu từ trời mà xuống…
Bỗng dưng buồn bã không gian
Mây bay lũng thấp giăng màn âm u
Nai cao gót lẩn trong mù
Xuống rừng nẻo thuộc nhìn thu mới về
(Huy Cận)

Mùa thu mới về, trời bớt nóng, và thêm hơi mát. Có ai thổi cơm mà khói nhẹ mơ hồ đâu đây. Chưa có sương mù, cũng chưa hẳn là sương mờ, chỉ là đôi thoáng sương mơ mỏng manh như chiêm bao… Không biết có phải sương thu mới nhóm hay đó chỉ là sự huyền ảo của chính hồn ta?

Trong bài Ký Viễn, Lý Bạch có một câu thơ làm ta say mê xúc động

Tương tư hoàng lạc diệp
Vàng rơi từng cánh tương tư

Vì tương tư mà lá vàng đã rơi từng cánh, hay chính mỗi chiếc lá vàng đã mang mối tương tư của ta trải đầy trong gió…

Anh yêu dấu, em gửi đến anh một chiếc lá vàng mà em nhặt được bên thềm nhà vắng như gửi về anh nỗi nhớ nhung da diết.

Ở miền Bắc nước ta, mùa thu là mùa cưới. Không biết do tục lệ nào hay vì đó là mùa của những hạt cốm Vòng màu xanh ngọc và màu đỏ thắm của trái hồng chín mọng mà mọi người coi như biểu hiện của sự kết hợp lứa đôi?

Chúng ta hãy nghe Xuân Diệu giải thích:

Mùa thu là mùa yêu nhau, yêu nhau bằng linh hồn, là mùa của những tâm hồn yêu mến nhau. Người ta ngoan hơn, dịu dàng hơn để mười hay hai mươi ngón tay đan với nhau và lắng nghe trời xanh ôm lấy lứa đôi như một tấm áo che sương. Đó là những giờ thân mật dạo qua hàng cây, bước như ngờ ngợ, hồn như giao hòa



Xuân người ta vì ấm mà cần tình
Thu người ta vì lạnh sắp tới mà cần đôi
Cho nên không gian đầy những lời nhớ thương.
Những linh hồn cô đơn thả ra những tiếng thở dài để gọi nhau.
Và lòng ta nghe thấy tất cả những du dương của những âm thanh diệu kỳ ấy…

Gọi Mùa Thu Mơ, một ca khúc rất… mùa thu của Phạm Anh Dũng. Mùa thu thật mơ màng, thật đẹp, và lại càng đẹp hơn với giọng hát Duy Trác cùng với nghệ thuật hòa âm của Duy Cường, qv&cb vừa nghe.

Mùa thu, màu sắc, đường nét của khung cảnh, bóng dáng của con người, cho đến không gian, thời gian… Tất cả đều rất mơ hồ, không rõ nét, không xác định, mà bảng lảng trong màn sương khói của những giấc mộng và những kỷ niệm không phai.

Và rồi… không hiểu sao buồn chở một hồn đầy?

Không gian như có giây tơ
Bước đi sẽ đứt, động hờ sẽ tiêu


Mời theo dõi một số clip ca nhạc về mùa thu

Thứ Ba, 12 tháng 10, 2010

Nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên



Tiểu sử nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên

Nguyễn Tất Nhiên, tên thật là Nguyễn Hoàng Hải. Sinh ngày 30 tháng 5 năm 1952 tại quận Đức Tu, tỉnh Biên Hòa và mất ngày 3 tháng 8 năm 1992 tại California.

Nguyễn Tất Nhiên theo học trường trung học Ngô Quyền từ năm 1963 cho tới năm 1970. Lúc mới vừa lên trung học đệ nhất cấp, Nguyễn Tất Nhiên đã làm thơ. Theo lời những người bạn cùng trường lúc đó, thơ của Nguyễn Tất Nhiên đã rất hay từ nhỏ. Lúc đó Nguyễn Tất Nhiên thành lập thi văn đoàn với bạn học là Đinh Thiên Phương, tên thật là Đinh Thiên Thọ. Cả hai thi sĩ học trò nầy cùng chung nhau xuất bản tập thơ Nàng thơ trong mắt năm 1966, khi đó Nguyễn Tất Nhiên được 14 tuổi. Trong tập thơ nầy Nguyễn Tất Nhiên lấy bút hiệu là Hoài Thi Yên Thi.

Tâm hồn nghệ sĩ của Nguyễn Tất Nhiên đã phát hiện trong người anh lúc ông còn rất trẻ. Đầu óc của ông được miêu tả lúc nào cũng như mơ mộng suy nghĩ đâu đâu, không tập trung ngay cả khi đang học. Bạn bè đùa thời gian này gọi ông là Hải Ngáo hay Hải Khùng.

Mối tình vô vọng với cô Duyên, nỗi đam mê, niềm đau khổ làm người, thể hiện qua những bài thơ của anh đã tạo nên phong các thơ của ông.

Sự nghiệp của Nguyễn Tất Nhiên thời gian đầu không mấy thành công: thơ ông in ronéo tặng không cho các nữ sinh đều bị quăng vào thùng rác. Những tập thơ gửi bán trong các tiệm sách đầu chợ Biên Hòa để đến giấy đổi màu vàng vẩn không bán được. Cho đến khi thơ ông được một số thầy giáo gửi đăng báo Sáng tạo của Mai Thảo, rồi Phạm Duy, Nguyễn Đức Quang thấy đó mà phổ nhạc thì mới bắt đầu nổi tiếng.

Vào khoảng năm 1972 hoặc 1973, Nguyễn Tất Nhiên nhận được giấy gọi nhập ngũ vào trường Võ bị Thủ Đức. Tuy nhiên mới vào Trung Tâm 3 Quang Trung, ông đã được cho thôi về vì lý do tâm thần bất ổn. Sau năm 1975, Nguyễn Tất Nhiên sống ở trong nước vài năm, sau đó sang đinh cư sang Pháp, rồi cuối cùng sang Mỹ sống ở Quận Cam.

Sau ông lấy vợ có tên là Minh Thủy, có 2 đứa con trai.

Ngày 3 tháng 8 năm 1992, người ta thấy ông nằm chết trong một xe hơi cũ, đậu dưới bóng cây trong sân chùa tại California.

Một bình luận về thơ Nguyễn Tất Nhiên

Anh nổi tiếng rất sớm. Vì thơ anh đi sớm hơn bước chân còn ngại ngùng bỡ ngỡ của thế hệ trẻ thời ấy trước sự tràn ngập của văn hóa phương Tây, qua hình ảnh người lính viễn chinh Mỹ, và qua phong trào hiện sinh mô phỏng trễ tràng trên đất nước đói nghèo, chiến tranh. Anh mạnh dạn nói được tiếng nói của tình yêu tuổi trẻ với sân trường, kỳ thi, chiến tranh, mất mát, hoài vọng, tuyệt vọng...

Chẳng phải sớm gì trong thể loại thơ, mà sớm trong phong cách biểu hiện. Anh dùng thứ ngôn ngữ của thời đại, rất hiện thực, không đẽo gọt; vậy mà thứ ngôn ngữ ấy bỗng nhiên mới, lạ, và được đón nhận nồng nhiệt. Bắt được giọng thơ tươi rói và đầy sức thu hút của anh, một nhạc sĩ tài danh phổ ngay thơ của anh thành nhạc, làm rung động bao trái tim cuồng nhiệt yêu đương thời chiến loạn. Vậy rồi thơ anh cất lên thành cơn sóng lớn, vượt bờ. Không ai mà chẳng biết thơ anh, không ai mà không hát nhạc phổ thơ của anh.

Hãy đọc một số bài thơ nổi tiếng được phổ nhạc mà ai cũng biết; và nên nhớ rằng lúc ấy, Nguyễn Tất Nhiên chỉ mới xấp xỉ ở tuổi hai mươi, để thấy cái tài hoa dị thường của anh:

Khúc Buồn Tình
1.
Người từ trăm năm
về ngang sông rộng
ta ngoắc mòn tay
... trùng trùng gió lộng
(thà như giọt mưa
vỡ trên tượng đá
thà như giọt mưa
khô trên tượng đá
có còn hơn không
mưa ôm tượng đá)

người từ trăm năm
về khơi tình động
ta chạy vòng vòng
ta chạy mòn chân
nào hay đời cạn!
(thà như giọt mưa
vỡ trên tượng đá
thà như giọt mưa
khô trên tượng đá
có còn hơn không
mưa ôm tượng đá)

người từ trăm năm
về như dao nhọn
ngọt ngào vết đâm
ta chết âm thầm
máu chưa kịp đổ
(thà như giọt mưa
vỡ trên tượng đá
thà như giọt mưa
khô trên tượng đá
có còn hơn không
mưa ôm tượng đá)


2.
thà như giọt mưa
gieo xuống mặt người
vỡ tan vỡ tan
nào ta ân hận
bởi còn kịp nghe
nhịp run vồi vội
trên ngọn lông măng
(người từ trăm năm
vì ta, phải khổ!)
(1970)

Trong tình yêu, thơ anh táo bạo vay mượn những hình ảnh thánh thiện để ví von mình, ví von người tình. Có thể nói lối vay mượn này là bước khai phá có một không ai của anh vào thời ấy, khiến thơ anh càng thêm phần đặc dị, ngời sáng, mà lại gần gũi biết bao với tâm tình giới trẻ.

Ma Sœur
đưa em về dưới mưa
nói năng chi cũng thừa
phất phơ đời sương gió
hồn mình gần nhau chưa?

tay ta từng ngón tay
vuốt lưng em tóc dài
những trưa ngồi quán vắng
chia nhau tình-phôi-thai
xa nhau mà không hay
(hỡi em cười vô tội
đeo thánh giá huy hoàng
hỡi ta nhiều sám hối
tính nết vẫn hoang đàng!)

em hiền như "ma sœur"
vết thương ta bốn mùa
trái tim ta làm mủ
"ma sœur" này "ma sœur"!
có dịu dàng ánh mắt?
có êm đềm cánh môi?
ru ta - người bệnh hoạn
ru ta suốt cuộc đời
(cuộc đời tên vô đạo
vết thương hành liệt tim!)

đưa em về dưới mưa
xe lăn đều lên dốc
chở tình nhau mệt nhọc!

đưa em về dưới mưa
áo dài sầu hai vạt
khi chấm bùn lưa thưa...

đưa em về dưới mưa
hỡi em còn nít nhỏ
chuyện tình nào không xưa?

vai em tròn dưới mưa
ướt bao nhiêu cũng vừa
cũng chưa hơn tình rụng
thấm linh hồn "ma sœur"...

(1971)

Linh Mục
1.
dĩ vãng là địa ngục
giam hãm đời muôn năm
tôi -- người yêu dĩ vãng
nên sống gần Sa-tăng
ngày kia nghe lời quỷ
giáng thế thêm một lần
trong kiếp người linh mục
xao gầy cơn điên trăng!

2.
vì tôi là linh mục
không mặc áo nhà giòng
nên suốt đời hiu quạnh
nên suốt đời lang thang!

vì tôi là linh mục
giảng lời tình nhân gian
nên không có thánh kinh
nên không có bổn đạo
nên không có giáo đường
(một tín đồ duy nhất
vừa thiêu hủy lầu chuông!)

vì tôi là linh mục
phổ lời tình nhân gian
thành câu thơ buồn bã
nên hạnh phúc đâu còn
nên người tình duy nhất
vừa thiêu hủy lầu chuông!

vì tôi là linh mục
không biết mặt thánh thần
nên tín đồ duy nhất
cũng là đấng quyền năng!


3.
tín đồ là người tình
người tình là ác quỷ
ác quỷ là quyền năng
quyền năng là tín đồ
tín đồ là người tình
thiêu hủy lầu chuông tôi
(vì tôi là linh mục
giảng lời tình nhân gian!)


4.
vì tôi là linh mục
không biết rửa tội người
nên âm thầm lúc chết
tội mình còn thâm vai...

(1970)

Ðụng chạm, lôi kéo những biểu tượng linh thiêng, đưa vào thơ và đưa vào tình yêu đời thường. Vậy mà anh chẳng làm mất lòng ai. Người ta vẫn cứ thích thú ca hát lời thơ của anh:

Hai năm tình lận đận
1.
hai năm tình lận đận
hai đứa cùng xanh xao
mùa đông, hai đứa lạnh
hơi thở dài như nhau (?)

hai năm tình lận đận
hai đứa cùng hư hao
(em không còn thắt bính
nuôi dưỡng thời ngây thơ
anh không còn luýnh quýnh
giữa sân trường trao thư!)

hai năm tình lận đận
hai đứa đành xa nhau
em vẫn còn mắt biếc
anh vẫn còn nôn nao
ngoài đường em bước chậm
trong quán chiều anh ngóng cổ cao...


2.
em bây giờ, có lẽ
toan tính chuyện lọc lừa
anh bây giờ, có lẽ
xin làm người-tình-thua
chuông nhà thờ đổ mệt
tượng Chúa gầy hơn xưa
Chúa bây giờ, có lẽ
rơi xuống trần gian, mưa
(dù sao thì Chúa cũng
một thời làm trai tơ
dù sao thì Chúa cũng
là đàn ông... dại khờ!)

anh bây giờ, có lẽ
thiết tha hơn tín đồ
nguyện làm cây thánh giá
trên chót đỉnh nhà thờ
cô đơn nhìn bụi bặm
làm phân bón rêu xanh
(dù sao cây thánh giá
cũng được người nhân danh!)


3.
hai năm tình lận đận
em đã già hơn xưa!...

(1972)

Anh thoát ra khỏi những hình ảnh và ngôn ngữ thơ chắt lọc, sang cả quí phái của nền thơ truyền thống. Thơ anh, không cứ là trăng là gió, là bến nước, bờ mây, tóc thề và áo dài bay tha thướt, mái tranh, cây đa hay gốc chuối... (như thể là người thơ cứ suốt đời ở nhà quê, cảnh cũ!) mà thay vào đó là những hình ảnh rất thực của thị thành với "tóc demi garçon", tóc bính, cột điện, với xe đạp, cà phê, cà phê đá, rạp cải lương, nhà ga và toa tàu, mùa thi với văn bằng... Tự ví mình như là một gã ngông cuồng, là người phá phách, là người vô đạo, là sa-tăng ác quỷ... nhưng trên thực tế thì anh rất hiền, và trong tình yêu, thường là người thua cuộc, hoặc tự nguyện chịu thua cuộc. Trách người chỉ là trách nhẹ nhàng. Còn lại là trách mình.

Thơ tình của anh vì vậy mà phổ cập, mà thành của chung. Ai đọc cũng thấy, cũng nghe được nhân dáng và kinh nghiệm của chính mình trong ấy. Từ thứ tình yêu reo vui, nhảy múa theo nhịp chân của "cô Bắc-kỳ nho nhỏ" cho đến tình yêu của người tuyệt vọng... anh nói thay mọi người bằng thánh ca của tình yêu.

Nhưng đặc biệt là lúc khổ đau vì tình, thơ anh chùng xuống, gãy đổ, nát tan... và quả là anh đã đi thật sớm, trước thế hệ của anh, trong sự cảm nhận cũng như lối biểu đạt về tình yêu:

Thiên thu
sao thiên thu không là xa nhau?
nên mưa xưa còn giăng ngang hồn sầu
tôi đứng như cây cột đèn gẫy gập
và một con đường cúp điện rất lâu!

sao thiên thu không là chôn sâu?
nên nắng xưa còn hanh mái tóc nhầu
tôi đứng như xe tang ngừng ngập
và một họ hàng khăn trắng buồn đau!

sao thiên thu không là đường chim?
nên mây năm xưa còn trên tay phiền
tôi đứng như tường vôi luống tuổi
và những tàng xanh chùm gởi quê hèn!

sao thiên thu không là lãng quên?
nên tình xưa còn cháy âm thầm
tôi đứng như căn nhà nám lửa
và những người thân trốn chạy vội vàng!

sao thiên thu không là sương tan?
nên mặt trời xưa còn gượng huy hoàng
tôi đứng như dòng sông yên lặng
và những cánh buồm kiệt sức lang thang!

sao thiên thu không là thiên thu?
nên những người yêu là những ngôi mồ
tôi đứng một mình trong nghĩa địa
và chắc không đành quên khổ đau!

(1970)

Trong thơ lục bát, anh vẫn theo vần nhịp cũ nhưng lối diễn đạt rất là thảnh thơi, thoải mái, tự nhiên như nói chuyện. Ðây, vần lục bát của hơn 30 năm trước:

Nên thời gian ấy ngùi trông
giọt mưa xanh mấy tuổi nàng
tôi nghe lá rụng như vàng áo xưa

hơi tàn tro ấm lần đưa
ba năm khơi lại cũng vừa đủ đau!

sớm, trưa, chiều, tối, ra, vào
người chưa yên nỗi thầm xao xác lòng
nên thời gian ấy ngùi trông
khô như hạt bụi trưa ngừng ngập bay...

ba năm vuốt sợi tình dài
ừ, tôi còn vụng ngón-tay-dậy-thì
thuở nào sầu đã lâm ly
giờ thêm già héo (nhiều khi hận thù!)

lửa đom đóm mỏi mòn, lu
nhưng tôi cứ buồn vi vu thổi hoài

mưa thì mưa thả phai phai
rồi sau đó sẽ một vài tang thương
bởi quen cầm lược soi gương
biết ai ôm gối mộng thường lâu chăng?

giọt mưa xanh mấy tuổi nàng
tôi nghe lá rụng như vàng áo xưa...

(1970)

Hôm nay
khi không tình não nùng buồn
gót chân ai bỏ con đường nhớ nhung
gót chân ai nhẹ vô cùng
dẫm lên xác-lá-tôi từng tiếng kêu
gót chân ai bước, nhẹ hều
bước qua tôi, bước, hư nhiều thói quen!

khi không tình não nùng buồn
nhớ hôm qua vẫy tay ngừng ngập xa
tóc ai ngắn ngắn, như là
suốt đời chưa chịu thiệt thà chấm vai
suốt đời khét nắng rong chơi
kể như hơi hướm bàn tay tôi, thừa!

mừng em sớm biết lọc lừa
biết ngây thơ giả -- biết đùa với đau!

biệt ly dù ở ga nào
cho tôi ngồi một toa tàu lãng quên...

(1974)

Ðó là Nguyễn Tất Nhiên của tuổi hai mươi, với TÌNH qua tập Thơ Nguyễn Tất Nhiên; và bây giờ hãy đọc Nguyễn Tất Nhiên với TÂM qua Tâm Dung. Tập trước được xuất bản năm 1980 (gom lại những bài thơ cũ trước năm 1975 và một số ít cuối thập niên 70) khi anh mới vượt biên ra hải ngoại; tập sau được xuất bản 9 năm sau đó. Tựa tập thơ là Tâm Dung, bao gồm nhiều bài thơ bắt đầu bằng chữ TÂM (như Tâm khai, Tâm sân, Tâm hoa, Tâm xuân, Tâm hồng, Tâm hương, Tâm mưa, Tâm sương, Tâm ca, Tâm cảm...) được chính tác giả mở đầu bằng một đoạn rất thâm trầm về tư tưởng Phật giáo, khiến người đọc có cảm tưởng là sẽ được đọc một tác phẩm về Thiền vậy:

"Dung, theo nghĩa dung chứa.
Năm lần Phật chỉ cho ngài A Nan, tâm là cái thấy.
Lấy cái thấy phân biệt để chỉ cái thấy vô phân biệt, lấy cái tâm vọng để chỉ cái tâm chơn, lấy ngón tay phàm phu để dụ như ngón tay Phật chỉ trăng. Kẻ trèo đèo này chỉ mong góp một cỏn con Phật sự, vọng động chăng?
Chỉ mong quí thiện hữu niệm tình: vọng mà biết mình vọng, còn hơn không."

Nguyễn Tất Nhiên
(Westminster, Ca. ngày 12/01/89)

Nhưng không. Dù mào đầu như thế, dù chọn lựa chủ đề và tựa đề như thế, thơ anh vẫn cứ là thơ, không phải là tập giáo nghĩa khô khan, cứng nhắc. Chỉ khác là anh đã chững chạc hơn (dĩ nhiên!), bớt bông đùa hơn, và trải đều lên những trang thơ là cõi lòng bát ngát của anh.

Tâm nguyệt
từ gót sen hài em hút dấu
sầu tôi như lá thẫn thờ bay
ví dù lá ngập đường em bước
lá cũng xin đừng bận gót ai...

từ mắt chia lòng sông cách núi
sầu tôi như bụi khắp không gian
ví dù bụi ố hoen màu trắng
bụi cũng xin đừng vương mắt xanh...

từ tóc bay xuôi dòng quá khứ
sầu tôi như bóng lặng lờ trôi
ví dù bóng đẳng đeo tròn kiếp
bóng cũng xin dòng tóc thảnh thơi...

từ hơi thở của không gian khác
sầu tôi như lịch nhẩn nha rơi
mỗi ngày thiên hạ hồn nhiên xé
lịch mới, như tờ-thương-nhớ-tôi!

từ hoa môi của bình minh khác
núi đồi vắng cả tiếng thông reo
chim thôi cười chúc mừng hoa lá
thành-phố-tôi già ho động cơ

từ vỡ, lành trăng lồng bóng nước
từ em là nguyệt lộng đời sông
từ tôi là một dòng tâm nguyệt
sông có trăng cười sông xóa trăng...

(06/01/1989)

Tâm duyên
1.
mùa hè anh lên núi
thấy tóc em lành nhiên
cười theo chiều, gió tối
trời đi vào giấc yên
cho sự sống duyên hiền
từng búp hoa huệ nhỏ
cho sự sống hương êm
từng thoảng hoa huệ thở
sự sống trắng tinh im
từng nụ quan-âm nở
im lặng là xin dâng
tặng đời bông hoa nữa...

mùa hạ anh ra đường
thấy mới tinh tất cả
thấy nắng nôi dịu dàng
đang vuốt ve cây cỏ
thấy cây cỏ dễ thương
đang làm duyên, tóc xõa
thấy lửa trời nung ngon
chín bòn bon sự sống
thấy sự sống nhịp nhàng
theo đỏ, vàng, xanh, đỏ...
thấy phố xá từ tâm
đèn cười hoa ba đóa...

(17/01/89)

Rõ ràng là anh đã học ở đâu, từ những vật vô tri, từ người tình, từ cuộc đời, từ nỗi buồn đau, từ cơn thất chí, từ niềm tuyệt vọng, từ cơn bệnh tưởng, từ một nền đạo lý hun đúc tâm anh, hay từ tất cả những thứ trên: đức khiêm nhẫn và lòng tha thứ, chịu đựng vô cùng:

Tịnh khúc
buồn ơi...
tôi bỏ tôi chìm đắm
trong tiếng làm thinh của ghế bàn
ghế bàn không sẻ chia sầu thảm
nhưng biết làm thinh lặng cảm thông
bàn ghế đâu như người vui nhảm
tọc mạch đời nhau để miệng mồm
buồn ơi, tôi muốn như bàn ghế
chịu đựng đời không biết thở than!

buồn ơi...
tôi bỏ tôi tàn tạ
lạy đời xin một bận ngó lơ
lần té nặng này tôi muốn giữ
cho tim đừng hối hận trèo cao
lần té nặng này tôi muốn sống
buồn ơi, đừng giết chết tình nhau
buồn ơi, tôi muốn hôn đời sống
dù môi nhầu nứt nẻ thương đau!

buồn ơi...
tôi bỏ tôi ngây dại
có phải thu-bồn chở tóc ai
có phải lần run tay vuốt đại
là lần đời biết thứ tha tôi
có phải lần xin tay nắm... đại
là lần té gập dưới bàn tay?
buồn ơi, tôi muốn dâng đời sống
một đóa hồng đau đớn tuyệt vời!

buồn ơi...
tôi bỏ tôi rời rã
bất lực làm sao trước cuộc đời
ừ nhỉ, trước giờ tôi chiến đấu
cho niềm bất lực buổi hôm nay!
ừ nhỉ, bây giờ tôi mới biết
ghế bàn nên kính trọng như thầy
bàn ghế dạy tôi điều nhẫn nhục
dạy tôi bình thản thứ tha đời
bàn ghế có bao giờ bất lực
có bao giờ biết đợi trông chi
buồn ơi, tôi muốn như bàn ghế
thương đời như thể bỉ khinh thôi!

buồn ơi...
tôi bỏ tôi gần chết
tay đời bít lối chẳng ngưng tay
u đầu sứt trán lao vào vách
tội tình tôi sao nặng thế này?

buồn ơi...
trong đám đông tàn nhẫn
một người chứng kiến đủ cho tôi
nhờ ai, tôi đã thành tâm nhẫn nhờ ai,
tôi phục dưới chân đời
buồn ơi, tôi muốn như dòng lệ
cay đời như kẻ thích ăn cay!

buồn ơi...
tôi có tôi-bàn-ghế
nguyện hiến cho đời một tấm lưng

(13/01/89)

Ðiều anh học được, làm được, cũng cho ta học được. Một tấm lòng khiêm cung, khiêm nhẫn. Một tấm lòng bao dung, tha thứ, và trên hết, vẫn tiếp tục yêu thương con người, yêu thương cuộc đời.

Sau đây là bài Tâm Dung, bài thơ được lấy đặt tên chung cho tập thơ. Bài thơ được đặt ở cuối tập. Không rõ sau bài này, Nguyễn Tất Nhiên còn những bài khác chăng.

Nhưng đọc xong bài này, tôi nghĩ đời thơ của anh đến ngang đây cũng quá đủ rồi.Không cần phải thêm một bài nào nữa. Ðây không phải là một bài thơ tuyệt tác của nền văn học nước nhà, mà là lời tỏ tình tuyệt vời của một tín đồ thuần thành của tình yêu, suốt đời chỉ tận tụy yêu, và tụng đọc bài kinh yêu. Sau đây là vài trích đoạn:

Tâm dung
1.
có thể nào trẻ thơ sống bên ngoài lòng mẹ? có thể nào anh sống ngoài tầm mắt em?
...
4.
vì người yêu thương trời đất cũng yêu thương, vì em đang ban phát yêu thương, vì anh cũng là thành phần muôn một của đất trời, nên cho dù em không hay không biết yêu thương vẫn thấm nhuần đều trên cuống đọt ngàn xanh dù em không biết không hay anh vẫn lan âm thầm khắp mặt địa cầu bất đồng khí hậu nhưng phải chăng em, nơi đá khô đất khó nào mà không diệp lục phải chăng em, đồng hoang man dã nào mà không có hoa chỉ tay em? vì em đang ban phát yêu thương nên anh khẩn xin là cọng cỏ được lần nào của chân em, tội nghiệp cho anh lòng còn ham muốn, tội nghiệp cho anh một đơn thân cỏ dại đòi chỉ riêng dành cho ngón ngón nhịp nhàng nhịp từng mỗi nhịp tim...
5.
tình yêu sao mà đau khổ với khổ đau, toại nguyện phải chăng là hạnh phúc? em lý lẽ gần nhau tình sẽ chết, vậy người ta sinh ra, sống, để làm chi?
6.
anh cô đơn ca hát vu vơ lời gì vô ý chỗ đám đông nơi con người dễ dàng phỉ báng kẻ điên khùng, ấy chết, anh chẳng thể viện lý do cuộc sống vắng em, dù em sẽ tin, nhưng thảm trải dưới chân có lời nào giải thích? dưới chân tình yêu, anh xin thành khẩn hứa chịu đựng ngang nhau hết thảy kẻ thân, thù.
.......
10.
anh muốn dụi tóc vào những ngón tay em cho hiện ra vài điểm bạc, cho thời gian đẹp phôi phai, cho sen lòng anh ngày mỗi thêm một đóa, cho hoa huệ hoa trang em đong đưa ngần ấy búp nhỏ đơm hương cho gió tình thơm tho không phân biệt chiếm hữu, tự do.
11.
mặt đất kia phù sa đắp bồi cho lúa no hạt mởn mơ bông, ruộng lòng anh đòng đòng tươm mắn sữa vì em là mưa hạ nắng đông là suối sông nguồn lượng cho rễ ngon khoáng chất trẩy hoa cành, vườn lòng anh xanh ngát tận chân trời vì em là yêu thương không phân biệt hoa nào là hoa hạnh phúc quả nào là quả đau thương.
12.
buổi sáng tinh khôi bừng mắt dậy thấy hoa lá không tên bóng động hình bên cửa sổ đùa gió vui sương, môi cười theo hồn nhiên nụ, hoa cười hay anh cười? trưa trưa rực nắng chan vàng đồng hướng dương hực vàng một cánh ngút ngàn chân mây, những nụ cười hàm tiếu tròn đầy, anh cười hay hoa cười? chiều chiều nghiêng nghiêng nắng dịu nghiêng nghiêng mình chào người và người chào đáp lại, người cười hay tim cười? buổi tối anh ngon lành êm ả ngủ, thở đều hòa nơi một kẽ ngón chân em, em thở hay anh thở...
(19/01/89)

Sau đó không thấy thơ Nguyễn Tất Nhiên nữa. Rồi một hôm, nghe tin anh mất. Trên chiếc xe cũ, đậu dưới bóng cây, trong vườn một ngôi chùa. Ðời anh, lúc nào cũng đi sớm hơn kẻ khác. Ðời không ruồng bỏ anh, cũng chẳng người tình nào ruồng bỏ anh (không ai có thể ruồng bỏ một người đáng yêu như thế! mà cũng chẳng ai có thể ruồng bỏ được một gã yêu tha thiết, yêu miệt mài, yêu thủy chung suốt đời như thế!).

Chỉ có anh, tự ý đi thật sớm, rời bỏ cuộc đời, để lại một cõi thơ bát ngát. Không cần phải tội nghiệp cho anh, và đừng tưởng anh khổ đau cùng tận! Anh là kẻ hạnh phúc vô cùng tận với tình yêu bất diệt và tấm lòng bao dung hiếm có. Và thơ anh, đã hóa thân khắp nơi khắp chốn: là ngọn cỏ mềm, là gió mơn man, là dòng sông êm, là bàn ghế lặng thinh, là đất trời mênh mang vô hạn... Nơi đó, có đủ hương vị của tình yêu cũng như những hỉ, nộ, ái, ố... bình thường của một con người, dù là con người thi sĩ, hay văn sĩ. Nhưng tất cả đều được dung chứa trong một cõi lòng thật rộng. Có thể nói, giới hạn giữa sống-chết, qua Tâm Dung ấy, không còn nữa.

Mời nghe một số tác phẩm của Nguyễn Tất Nhiên .

Vì Tôi Là Linh Mục



Thà như Giọt Mưa



Em Hiền Như Ma Sœur



Trúc Đào



Cô Em Bắc Kỳ Nho Nhỏ






Thứ Năm, 23 tháng 9, 2010

Lady Gaga: giải mã hiện tượng mới của làng nhạc quốc tế

Chỉ trong vòng một thời gian rất ngắn, Lady Gaga đã áp đặt phong cách và tên tuổi của mình trong làng nhạc pop quốc tế. Đầu tháng này, cô đã bất ngờ lập kỷ lục thế giới. Trong vòng chưa đầy hai năm, ba cuộn phim video clip của cô đã thu hút một tỷ lượt người xem trên mạng Internet.


Lady Gaga luôn thay hình đổi dạng, nổi tiếng nhờ trang phục và phong cách biểu diễn (DR).

Xin nghe bài viết trên đài RFI.



Trong tuần này, tạp chí Forbes của Mỹ đã công bố danh sách Celebrity 100, gồm một trăm nhân vật có tầm ảnh hưởng lớn mạnh nhất thế giới. Lady Gaga lần đầu tiên xuất hiện trên bản xếp hạng này, đứng hàng thứ tư sau nữ hoàng talk show Hoa Kỳ Oprah Winfrey (hạng 1), ca sĩ RNB Beyonce (hạng 2), đạo diễn James Cameron (hạng 3). Nhưng Lady Gaha lại vượt qua mặt vận động viên Tiger Woods (hạng 5), ban nhạc rock U2 (hạng 7) và thần tượng Madonna (hạng 10). Theo tạp chí Forbes, Lady Gaga có bước khởi đầu ngoạn mục và chớp nhoáng. Những lãnh vực thành công nhất của cô là thời trang, biểu diễn sân khấu và quay video clip. Tầm ảnh hưởng của Lady Gaga cũng rất lớn trên các mạng xã hội như Facebook và Twitter.



Năm nay 24 tuổi, Lady Gaga tên thật là Stefani Joanne Angelina Germanotta, sinh trưởng trong một gia đình người Mỹ gốc Ý. Cô học đàn piano từ năm lên 4 và bắt đầu sáng tác, ca hát từ thuở niên thiếu. Năm 17 tuổi, cô nằm trong số 20 học sinh xuất sắc được nhận vào trường cao đẳng nghệ thuật Tisch tại New York . Nhưng ngày cuối tuần, cô kiếm tiền nhờ nghề chạy bàn và đóng vai nhỏ trong các bộ phim truyền hình. Năm 19 tuổi, cô ký hợp đồng ghi âm đầu tiên, nhưng hầu hết các ca khúc được cho ra mắt trong giai đoạn này đều gặp thất bại. Chán nản, cô dọn nhà từ New York về Los Angeles, một mặt soạn nhạc cho các nghệ sĩ đang ăn khách như Fergie của nhóm Black Eyed Peas, ca sĩ Britney Spears và ban nhạc Pussycat Dolls, mặt khác cô đi diễn trong các quán nhạc, tại các liên hoan địa phương, dành dụm tiền để thuê phòng ghi âm.

Lady Gaga : một Madonna của thế kỷ 21

Mãi đến cuối tháng 10 năm 2008, cô mới cho ra mắt album đầu tay với biệt danh Lady Gaga. Mang tựa đề The Fame có nghĩa là Danh vọng, cuối cùng cô đã thực hiện được ước mơ của mình khi chiếm lĩnh hạng đầu thị trường Bắc Mỹ và Châu Âu. Đúng một năm sau đó, đầu tháng 11 năm 2009, Lady Gaga trình làng phiên bản thứ nhì của album The Fame Monster, gồm tập nhạc đầu tay cộng thêm 8 ca khúc mới. Kết quả là trong vòng hai năm, cô đã bán hơn 11 triệu album và 38 triệu đĩa đơn. Đầu năm 2010, cô đoạt giải Grammy dành cho nghệ sĩ xuất sắc nhất dòng nhạc dance, và phá kỷ lục do ông hoàng nhạc pop Michael Jackson nắm giữ với 7 ca khúc trích từ cùng một tập nhạc, lọt vào Top Ten thị trường Hoa Kỳ. Ở khắp nơi, mọi người bắt đầu nhắc đến hiện tượng Lady Gaga. Cô còn được so sánh như một Madonna của thế kỷ 21. Điều gì có thể giải thích một sự thành công nhanh chóng đến như vậy ?

Phụ trang cuối tuần của tờ báo Anh Quốc Times cho rằng : Lady Gaga tiếp tục đổi mới dòng nhạc pop, một cuộc cách mạng mà Madonna đã bắt đầu cách đây 25 năm. Khi kết hợp ca nhạc với vũ đạo, y phục thời trang với nghệ thuật làm video clip, Lady Gaga làm cho người ta liên tưởng đến Madonna thời còn trẻ. Nhật báo Boston Globe của Mỹ nói thẳng là Lady Gaga vay mượn thậm chí sao chép các bí quyết thành công của Madonna. Cả hai đều có những bài hát với nội dung không sâu xa, nhưng giai điệu lại rất hiệu quả, không cần nhọc sức mà vẫn lôi kéo người nghe ra sàn nhảy.

Cuộc "cách mạng" dòng nhạc pop

Tờ The Guardian của Anh thì đánh giá : sáng tác của Lady Gaga hợp với gu thời nay nhưng chưa thể gọi là kiệt xuất, có độc đáo hay chăng chính là phong cách biểu diễn của cô : vừa táo bạo, vừa khiêu khích, đầy kịch tính như một vở tuồng burlesque, nửa khôi hài nửa lố bịch. Còn theo báo Le Post của Thụy Sĩ, Lady Gaga thành công một phần là nhờ biết cách tận dụng các phương tiện thông tin toàn cầu. Giới trẻ những năm 1980 hưởng ứng các cuộn phim video clip rất dài của Michael Jackson chiếu trên kênh truyền hình MTV. Một cách tương tự, cộng đồng trên mạng Internet thời nay, với một tỷ lượt người xem là phương tiện quảng cáo dây chuyền rất hữu hiệu cho Lady Gaga. Một khi lũ trẻ đã thích, thì không cần ai bảo, họ tự động tải lên blog, đưa vào mạng xã hội để rủ hàng loạt người khác cùng xem.



Sự so sánh giữa Lady Gaga với Madonna là quá hiển nhiên, vì thời niên thiếu, bất cứ nghệ sĩ nào cũng đều có thần tượng, và khi bắt đầu đi hát họ sẽ vay mượn ít nhiều từ các bậc đàn anh, đàn chị. Nhưng có một điều mà ít ai để ý tới là Lady Gaga thấm nhuần ảnh hưởng của dòng nhạc glam rock thập niên 70 nhiều hơn là các thần tượng nhạc pop những năm 80. Trước hết, biệt danh Lady Gaga xuất phát từ bản nhạc Radio Gaga của Freddie Mercurry và ban nhạc Queen. Trong ca từ, cô dùng nhiều từ tượng thanh và đơn âm, một chữ có thể được lập đi lập lập lại trong cùng một câu và không nhất thiết có ý nghĩa. Điều này đã từng được thấy trong bài Cosmic Dancer của ban nhạc T. Rex và Bohemian Rhapsody của nhóm Queen.

Giải mã hiện tượng Lady Gaga

Ngoài phong cách biểu diễn, Lady Gaga còn nổi tiếng nhờ vào các bộ trang phục mà nhiều người cho là quái gỡ, dị hợm, phản cảm. Giới hâm mộ thì lại rất yêu chuộng khi cho rằng cô rất tiên phong trong cách ăn mặc. Nhưng cũng phải biết rằng đằng sau ca sĩ này là cả một nhóm thiết kế thời trang mang tên là Haus of Gaga. Họ sáng chế ra hàng loạt y phục và phụ kiện thời trang chẳng hạn như một cặp mắt kính đeo mắt gắn đầy điếu thuốc lá, hay một chiếc váy màu hồng làm bằng chùm bong bóng. Điều đó có nghĩa là Lady Gaga không chỉ hóa trang trên sân khấu mà còn biết giả dạng trong đời thường. Cứ mỗi lần xuất hiện trước công chúng, cô luôn luôn nhập vai nhân vật Lady Gaga. Điều đó làm ta liên tưởng đến thần tượng glam rock David Bowie thời trước, luôn hóa trang thành nhân vật Ziggy Stardust. Cả hai nhân vật Gaga và Ziggy đều là người đến từ một hành tinh khác, chứ không phải là của thế giới này.

Thời còn trẻ, Madonna luôn luôn thay hình đổi dạng, từ đầu tóc đến cách ăn mặc để tránh lập đi lập lại những gì đã làm. Cô biết bắt mạch thị trường, tận dụng những trào lưu đang thịnh hành trong các cộng đồng thiểu số (chẳng hạn như cách ăn mặc của giới gay hay các kiểu nhảy của cộng đồng da màu) để đem đi phổ biến rộng rãi hơn. Đâu đó, trào lưu của thiểu số sát nhập dòng chính của đại đa số. Về điểm này, Lady Gaga cũng giống như bậc đàn chị khi khai thác triệt để các biểu tượng văn hóa phổ thông (pop culture). Nhưng sự so sánh sẽ dừng lại ở đó, vì Lady Gaga trước hết là vai diễn chính của một tuồng kịch, đời thường hay sân khấu đều được dàn dựng như nhau. Mọi người đều biết đến nhân vật Lady Gaga, nhưng không ai biết rõ cô Stefani Germanotta ngoài đời là ai ? Nói cách khác Lady Gaga không nấp mình trong bóng tối, mà tự giấu mình trong ánh sáng. Càng phô trương phơi bày, Lady Gaga có lẽ không muốn cho thấy những gì thật sự diễn ra đằng sau vầng hào quang danh vọng.

Tuấn Thảo (RFI)


Thứ Bảy, 11 tháng 9, 2010

Nỗi nhớ âm thầm trong nhạc Tô Vũ

Chương trình Thơ Nhạc “Tiếng Chuông Trong Nhạc Và Thơ” đã phát thanh trên làn sóng VOA , được nhạc sĩ Tô Vũ nghe và bổ túc cho một chi tiết về ngôi giáo đường Phong Lôi tỉnh Thái Bình. Chương trình nhạc Tô Vũ hôm nay Bích Huyền thực hiện như một lời cảm ơn đến một tên tuổi lẫy lừng trong âm nhạc Việt Nam…


Hình: Anna Cervova

Mời các bạn nghe bài này trên đài VOA



Theo nhà văn Nguyễn Đình Toàn, thì Tô Vũ đã thổi một luồng gió mới vào việc viết ca khúc Việt Nam thời 1944 đến 1954.

Cũng là tình ca nhưng tình ca của Tô Vũ đã nới rộng chân trời của những lứa đôi. Ông cũng cho thấy tình yêu có nhiều cách bày tỏ. Người ta sống cũng có nghĩa là sống trong một hoàn cảnh và đôi khi nói tới bất cứ điều gì trong hoàn cảnh đó, cũng có thể là đang nói tới cái tình của mình.

Chẳng hạn như ca khúc Tạ Từ mà chúng ta vừa nghe Anh Ngọc diễn tả với nhiều giọng nữ phụ họa, phần hòa âm của Hoàng Trọng.

Rồi đây khi mùa dứt chiến chinh
Gió dâng khúc đàn thanh bình
Ta đi tìm thơ muôn phương

Toàn thể ca khúc toát ra một vẻ gì đó giống như một bài kinh cầu nguyện. Mỗi hình ảnh được nhắc tới tựa một dấu vết hạnh phúc, của ước mơ được thắp sáng, và trở thành chính đối tượng của lời cầu nguyện.

Tình yêu như thế, vừa có vẻ là lễ vật hiến dâng, vừa là ân sủng được thừa hưởng. Nó có thể mất, có thể còn. Nhưng mất hay không, thì nó cũng vẫn còn ở trong trần thế này, nên nó cũng không thể mất hẳn.

Cho nên dù có đau thương, mỗi tiếng hát vẫn là một lời ngợi ca hạnh phúc.

Lời anh thầm ước khi nao,
dưới trăng giữa mùa hoa đào
Trong em dư âm còn vang tiếng đồng
Lầu chiều còn luyến ánh hồng,
Lầu xây trong không -- sóng gió rót chia ly,
Phồn hoa em chia tay ra đi,
Đưa chân dừng bước bên cầu giã từ mấy câu

Khi về son thắm lòng người
thu cách tạ mây trời
Nếu tình quê đôi lần nhắc miền quê xa xôi
Mỗi khi vang âm ngàn phương,
nhạc chinh nhân trong chiều sương,
Em có mong giòng sông cũ
vẫn suôi niềm thương

Tình anh như thông đầu non,
Vời cao trông mây buồn đứng
Muôn kiếp cô liêu,
Ngàn năm còn reo...

Trong nhạc Tô Vũ, chúng ta cũng không bao giờ thấy lảng vảng hình bóng của cái chết. Vâng, đời sống không dễ dàng lắm đâu nhưng cũng không quá khó khăn bởi vì người ta có thể tìm thấy sự dịu dàng ở khắp mọi nơi.

Tô Vũ không nói tới nỗi nhớ nhung nào cụ thể nhưng người ta dường như vẫn nghe tiếng gọi âm thầm ẩn sau mỗi câu nhạc của ông. Và nỗi nhớ nhung vì thế cứ tràn ngập không gian…

Em đến thăm anh một chiều đông
Em đến thăm anh một chiều mưa
Mưa dầm dề, đường trơn ướt tiêu điều
Em đến thăm anh người em gái
Tà áo hương nồng
Mắt huyền trìu mến sưởi ấm lòng anh
Em đến thăm anh chiều đông giá
Em đến thăm anh trời mưa gió
Đường xa lạnh lùng

Mặt nhìn mặt, cầm tay bâng khuâng không nói một câu
Lời nghẹn ngào, hồn anh như say như ngây, vì đâu?
Gió đưa cánh chim trời
Đó đây cách xa vời
Chiều vui mưa ướt cánh
Khá thương kiếp bềnh bồng
Dẫu khắng khít đôi lòng
Chiều nào em xa anh!
Có hay lúc em về
Gót chân bước reo âm thầm
Trên đường một mình ngoài mưa, mưa như mưa trong lòng anh
Lòng bồi hồi nhìn theo chân em, chìm trong ngàn xanh

Trong âm nhạc của chúng ta, không biết có bao nhiêu trận mưa nhưng không có trận mưa nào chứa chan hạnh phúc như chúng ta vừa nghe trong nhạc Tô Vũ. Trận mưa ấy có thể chia xẻ hân hoan cho những ai nghe và hát nhạc Tô Vũ. Bởi vì chẳng cần phải là một tuyệt thế giai nhân, mà chỉ cần một tà áo hương nồng và một ánh mắt trìu mến, người ta cũng đủ để trở thành người trong thơ, trong nhạc. Hay nói cách khác, sống cái tình của mình y như vậy và nó đâu có phải là điều gì khó khăn mà chúng ta không đạt được.

Ta ước mơ một chiều thêu nắng
Em đến chơi quên niềm cay đắng
Và… quên đường về…

Ôi hạnh phúc mới tuyệt vời và giản dị làm sao!

Chúng ta không biết rõ Tô Vũ có sáng tác nhiều không nhưng chỉ thấy bốn năm bài được phổ biến. Gần đây, tác giả Tạ Từ tiết lộ có khoảng 80 ca khúc lãng mạn của ông chưa hề được phổ biến, chúng ta đón đợi được thưởng thức những bản tình ca này. Ngoài ra, Tô Vũ còn viết lời, với tên thật là Hoàng Phú, cho bài nhạc Ngày Xưa của Hoàng Phúc.

Dòng sông Hát nước xanh mờ sâu
Êm đềm trôi về tới nơi đâu
Sóng đưa lăn tăn con thuyền ai xuôi
Theo gió khơi tiếng ca âm thầm trầm rơi
Ngày xưa kia nơi đây đã từng vang hình bóng
Đôi quần thoa đem máu đào hoa nở sông nhà
Hồn linh thiêng sống trong muôn ngàn sóng
Những khi nao chiều vắng trầm đưa lên tiếng ca

Đây là một trong những bài sử ca hay nhất của âm nhạc Việt Nam.

Nói chung qua nhạc, chúng ta biết một Tô Vũ có một tâm hồn nhạy cảm, phóng khoáng và rất nghệ sĩ. Có thể nói bằng sáng tác của mình, Tô Vũ đã nâng nghệ thuật viết ca khúc ở Việt Nam lên cao hơn một bậc. Ông cũng phải được coi là một nghệ sĩ viết lời ca hay nhất của chúng ta. Mỗi chữ, mỗi câu, ông đều viết xứng hợp với những giai điệu chau truốt của ông.

Nghe nhạc Tô Vũ, người ta cảm thấy hình như đời đẹp hơn, tình đẹp hơn…

Ông không triết lý, không khuyên răn ai một điều gì nhưng cái đẹp, cái quý phái trong mỗi ca khúc của ông làm thành một giới hạn. Người ta hiểu rằng, người ta phải vươn tới được cái giới hạn ấy mới thâm nhập được vào đẹp, cái cao quý. Và nghệ sĩ cũng luôn là một loài chim hiếm quý.

Nếu phải chọn một trong ba bài hát Bích Huyền vừa gửi đến trong chương trình: Tạ Từ, Em Đến Thăm Em Một Chiều Mưa và Tiếng Chuông Chiều Thu xem bài nào được coi là tuyệt tác nhất của Tô Vũ thì Bích Huyền tin chắc rằng quý vị đều thích các bài ấy ngang nhau. Phải không ạ?

Xin kính gửi đến ông những bông hồng tạ ơn tươi đẹp nhất và kính chúc ông sức khỏe dồi dào.

Bích Huyền (VOA)

Thứ Năm, 9 tháng 9, 2010

Thơ tình Nguyên Sa

Người ta đọc thơ Nguyên Sa cho nhau nghe như đọc những giáo điều tình yêu, để thấy cuộc đời dễ thương hơn, tình thơ mộng hơn…




Hư ảo nào như hư ảo mây
Em cười trong nắng, áo trong tay
Thơ trong tà áo, em trong gió
Ta nhớ mơ hồ mây trắng bay

Hư ảo nào như hư ảo em
Tiếng cười khua động những thân quen
Đời xưa ta nhớ mây tiền kiếp
Còn lúc bây giờ ta nhớ em

(Hư ảo trăng)

Nghe đọc bài viết trên đài VOA.



Nhắc đến Nguyên Sa là người ta lại nhớ đến những câu thơ Anh vẫn nhớ em ngồi đây tóc ngắn. Mà mùa thu dài lắm ở chung quanh, hoặc Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc. Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường hoặc Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm. Chả biết tay ai làm lá sen.

Biết bao nhiêu thế hệ đã yêu thơ Nguyên Sa.

Trịnh Gia Mỹ, một học trò của ông và cô cũng là một nhà thơ, đã viết: Có thể nói thơ tình Nguyên Sa có nhiều người đọc nhất, có nhiều người thuộc nhất. Nhiều thế hệ đã đọc thơ ông và sẽ đọc thơ ông.” Vâng, người ta đã chép thơ Nguyên Sa tặng nhau để thay lời tỏ tình. Người ta đọc thơ Nguyên Sa cho nhau nghe như đọc những giáo điều tình yêu, để thấy cuộc đời dễ thương hơn, tình thơ mộng hơn…

Trời hôm nay mưa nhiều hay rất nắng?
Mưa tôi chả về bong bóng vỡ đầy tay
Trời nắng ngạt ngào... tôi ở lại đây
Như một buổi hiên nhà nàng dịu sáng

Trời hôm ấy mười lăm hay mười tám?
Tuổi của nàng tôi nhớ chỉ mười ba
Tôi phải van lơn, ngoan nhé đừng ngờ
Tôi phải dỗ như là tôi đã lớn

Người con gái ấy trong thơ là cô bé Trịnh Thuý Nga, sau này là người bạn đời của thi sĩ Nguyên Sa. Hai người từng du học bên Pháp. Khi trở về Sài Gòn, hai ông bà vừa được mời dạy tại các trường Trung học công lập và điều hành trường Trung học tư thục Văn học và Văn Khôi.

“Nga”, bài thơ mà thi sĩ đã ghi trong Hồi ký “là bài thơ và cuộc đời mà ông cực kỳ yêu mến”. Xin trích đoạn:

Và em sẽ cười phải không em
Em sẽ không buồn như một con chó ốm
Như con mèo ngái ngủ trên tay anh
Đôi mắt cá ươn như sắp sửa se mình
Để anh giận sao chả là nước biển...

Trong cái khí hậu mênh mang thơ tiền chiến lúc bấy giờ, với một ngôn ngữ rất… đời thường đưa vào thơ như thế/ nhưng vẫn được giới trẻ thời ấy chấp nhận vì những hình ảnh tinh nghịch, dí dỏm trong thơ trở nên rất dễ thương.

Hình ảnh Nga gần như tràn ngập trong tất cả những bài thơ tình của Nguyên Sa… Không có gì là lạ vì người thiếu nữ dễ thương duyên dáng tên Nga sau này là người bạn đời của thi sĩ là một nữ giáo sư rất đẹp, ai đã từng được học với cô đều yêu quý kính trọng vô cùng…

Vâng, thơ Nguyên Sa, nói như nhà văn nhà thơ Bùi Bảo Trúc thì “đang từ cái thế giới tiền chiến “em đẹp bàn tay ngón thon thon”, đang Đinh Hùng “mắt xanh lả bóng chiều hoang dại”, đang Quang Dũng “em đi áo mỏng buông hờn tủi”, đang Huy Cận “em ơi hãy ngủ anh hầu quạt đây”… thì người ta lại dẫn con chó ốm, con mèo ngái ngủ, con cá ươn vào đòi nhập cuộc chơi.

Cái vé vào cửa kỳ lạ đó vẫn đẩy được cánh cửa khép kín của thơ Việt Nam cho người thanh niên trẻ ấy bước vào. Mặc dầu đi với chàng ta là tả ngạn sông Seine, là vườn Lục Xâm Bảo mùa xuân, là những quán ca phê lề đường của thủ đô ánh sáng, là những hơi thở của Prevert, của Apollinaire… Chàng tuổi trẻ đó đưa cho người đọc hình ảnh thơ không giống bất cứ một thứ ước lệ nào dùng trước đó. "Hôm nay Nga buồn như một con chó ốm".

Nguyên Sa đem ngay được cái mới của đôi mắt nhìn từ sân trường Sorbonne, của dòng sông mà Apollinaire nói đến rất nhiều, của những góc đường Prevert đã đứng nhìn ra những đại lộ, công viên mùa thu hay dưới trận mưa hạnh phúc.

Những cánh rừng quên mất mặt xuân
Những chân nai đi tìm tay cỏ biếc
Những mắt sóng vỡ trên thung lũng biển
Những đảo buồn chìm trong im lặng xanh
Những thuyền sao chạy lạc trong đêm
Hãy cám ơn nụ cười và đôi mắt

Nguyên Sa đã cho thơ một đời sống mới

Trang sức bằng nụ cười phì nhiêu
Nhẩy bằng chân chim trên giòng suối cạn
Ấy là em trên đường đi buổi sáng
Trăng ở trên môi và gió ở trong hồn

Những màu áo vàng, áo xanh, áo tím, và ngay cả đôi găng tay che nắng làn da nữ sinh Sài Gòn cũng thấp thoáng trong thơ… Thơ của ông được tuổi trẻ miền Nam đón nhận ngay lập tức. Một thế hệ mới không còn phải nhờ những bài thơ tiền chiến nói hộ lòng mình. Họ có Nguyên Sa giúp họ tỏ tình với sân trường, “với thơ học trò anh chất lại thành non/với tay trắng anh vào thơ diễm tuyệt”.

Rồi có cả những bài thơ ý từ táo bạo rất bất ngờ như bài thơ có tựa là Bất Ngờ sau đây…

Đêm mưa có chỗ bất ngờ
Chỗ thêm ấm áp chỗ thờ phượng nhau
Mai về mẹ hỏi đi đâu
Đắp chăn chùm kín ngang đầu nghe em
Thiên đường có chỗ màu đen
Anh nằm nghe thấy vẫn còn tiếng mưa
Tiếng trời gõ nhịp tiếng trưa
Tiếng cho sâu thẳm tiếng khuya tuyệt vời

Cách đi vào thơ của Nguyên Sa là như thế.

Là những nét tinh nghịch, tươi trẻ, là dáng vẻ mơ mộng lãng mạn, là chữ nghĩa lồng lộng tình cảm, là lấp lánh trăng sao, là buổi tối mưa đêm dìu dặt…

(Bài soạn từ Thơ Nguyên Sa Toàn Tập - theo VOA)