Hiển thị các bài đăng có nhãn 06.Tài chính - Kế toán. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn 06.Tài chính - Kế toán. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 29 tháng 8, 2010

Các quốc gia đang phát triển có thể vượt các nước giàu trong 20 năm tới ?

Ngày 16/06/2010, Tổ Chức Hợp Tác và Phát Triển Kinh Tế (OCDE/OECD) đã công bố một bản báo cáo về triển vọng kinh tế thế giới mang tựa đề ‘’Viễn ảnh Phát triển Toàn cầu : sự chuyển dịch của nền thịnh vượng’’. Theo ghi nhận của OCDE, thế giới đang chứng kiến một sự thay đổi lớn trong trật tự kinh tế toàn cầu, với phần đóng góp ngày càng lớn của các nước đang phát triển, mà các nhà kinh tế xem là đầu tàu hiện đang kéo kinh tế thế giới đi lên.


© OECD



Theo dự báo của Quỹ Tiền Tệ Quốc tế FMI, đưa ra vào tháng 4/2010, tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2010, sẽ đạt tỷ lệ bình quân 4,2%. Tính riêng từng khu vực, thì tại vùng Châu Âu sử dụng đồng euro, tăng trưởng chỉ là 1%. Hoa Kỳ khá hơn một chút với 3,1%. Trong lúc đó thì Châu Á đạt 8,7%, với đầu tàu là Trung Quốc, có tỷ lệ 10%. Ấn Độ không kém với 8,8%. Brazil, một quốc gia đang vươn lên khác cũng đạt 5,5%. Theo Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế, tăng trưởng tại các nước đang vươn lên này sẽ là động cơ, giúp các quốc gia giàu có vực dây nền kinh tế của mình.

Quả là có một sự đổi vai. nhưng tổ chức OCDE, tỏ ra rất lạc quan về triển vọng sắp tới của các quốc gia đang phát triển và đang vươn lên, thường được gọi chung là ‘’phương Nam’’. Khối nước này không chỉ bắt kịp các quốc gia đã phát triển, mà vào năm 2030, tức là trong 20 năm tới đây, còn sẽ vượt qua các nước phương Bắc, và chiếm một tỷ trọng đến gần 60% sản lượng toàn cầu, trong lúc mà toàn bộ số hơn 30 quốc gia thành viên giàu có của tổ chức OCDE, vào thời điểm đó chỉ còn chiếm được hơn 40%.

Tỷ lệ kể trên đã đảo ngược hoàn toàn so với cách đây 10 năm, khi các quốc gia giàu có còn chiếm 60%, tổng sản lượng toàn cầu. Đà suy giảm của khối nước phương Bắc tuy nhiên đã khởi sự, và đến năm 2010, tỷ trọng các quốc gia công nghiệp phát triển đã tuột xuống còn 51%. Trong trật tự thế giới mới do OCDE phác họa, trao đổi giữa các quốc gia phương Nam với nhau sẽ gia tăng, và trở thành một trong những động lực chính thúc đẩy tăng trưởng toàn cầu trong thập niên tới đây.

Về mức sống người dân, theo bản báo cáo, hiện nay một số quốc gia đang phát triển cũng đã bắt kịp mức sống các quốc gia giàu. Tuy nhiên OCDE cũng gợi lên một số điểm đen trong viễn ảnh lạc quan của mình : đó là sự chênh lệch phát triển giữa các quốc gia phương Nam với nhau và nhất là khoảng cách giàu nghèo càng lúc càng sâu thêm trong từng nước. Trong tình hình đó, OCDE khuyến cáo các nước phương Nam là nên nhanh chóng thực hiện các chính sách xã hội để giảm bớt các khó khăn nẩy sinh.

Vấn đề đặt ra là viễn ảnh mà tổ chức OCDE phác họa có thật sự sẽ hoàn toàn tốt đẹp như thế hay không. Trả lời phỏng vấn RFI sau đây, kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghiã tại California, tỏ ra thận trọng, và nêu một số yếu tố mà các quốc gia Phương Nam còn thiếu và có thể ngăn cản bước tiến của các nước này, trong đó có cả những vấn đề phi kinh tế như trí tuệ và dân chủ.

RFI : Tổ chức Hợp tác và Phát triển OCDE đã công bố phúc trình về "Viễn ảnh Phát triển Toàn cầu" với nội dung tập trung vào những thay đổi lớn về sự giàu có trên thXế giới trong vòng hai chục năm tới. Thưa anh, xưa nay, người ta nói đến một ranh giới Nam-Bắc của phát triển, theo đó, các nước ở Bắc bán cầu đã công nghiệp hoá trước tiên, và trở thành giàu có nhất so sánh với các nước ở Nam bán cầu. Bây giờ, theo dự báo của OCDE thì người ta đang thấy ra một trật tự mới của kinh tế thế giới, với các nước miền Nam sẽ đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn. Cụ thể thì nay đang ở trong tình trạng ngang ngửa, chứ 20 năm tới sẽ vượt qua các nước công nghiệp hoá ở miền Bắc và sẽ giao dịch mua bán với nhau nhiều hơn nên sẽ làm chủ một lượng tài sản lớn hơn của địa cầu. và nhất là thị trường tiêu thụ to lớn của họ có khả năng đảy lượng giao dịch với các nước phát triển mạnh hơn và giúp các nước này ra khỏi khủng hoảng kinh tế. Anh nghĩ sao về những kết luận trên ?

Nguyễn Xuân Nghĩa : Người ta căn cứ trên những thành quả kinh tế trong 20 năm vừa qua, tức là từ đầu thập niên 90 cho đến cuối năm 2008, để đưa ra một cái dự phóng cho tương lai.
Căn cứ trên kết quả trong 20 năm qua thì ta thấy rằng các nước gọi là đang phát triển có tốc độ phát triển cao hơn, có sản lượng công nghiệp cao hơn, và họ buôn bán giao dịch với nhau nhiều hơn. Thành ra mức sống của dân cư tại những nơi đó cũng cải thiện, cụ thể là có cỡ chừng 500 triệu người thuộc loại bần cùng, tức là bình quân lợi tức chỉ có 1 đô la một ngày chẳng hạn, thì đã ra khỏi cái sự nghèo khổ đó.

Đa số thành phần đó nằm ở Trung Quốc. Và vì lợi tức gia tăng ở các nước đó mà người ta tin rằng và người ta cũng mong rằng là khả năng tiêu thụ cao hơn của các nước đang phát triển, có thể giúp cho các nước giàu có đang bị đình trệ kinh tế sẽ có một thị trường xuất cảng nhiều hơn. Và như vậy, vì thị trường tiêu thụ nội điạ của các nước đang phát triển có thể còn gia tăng theo mức lợi tức dân cư của họ mà họ nghĩ rằng có thể thế giới đang có một sự xoay chuyển lớn.

Trước đây, các nước công nghiệp thường nhập cảng nhiều, tiết kiệm ít và đà tăng trưởng thấp, và trong khi đó thì các nước nghèo, họ cố ra công xuất cảng nhiều, và có tốc độ tăng trưởng cao hơn. Bây giờ thì nó có thể sẽ đưa đến một tình trạng gọi là tái quân bình lại luồng giao dịch giữa các nước với nhau và các nước nghèo có thể sẽ mua hàng của các nước giàu nhiều hơn và nhờ đó mà có thể kéo các nước Âu Mỹ, kể cả Nhật Bản, ra khỏi tình trạng đình trệ vừa rồi.

Tôi nghĩ đấy là một cái mặt gọi là tích cực mà bản thân tôi cho là quá lạc quan của những cái nhận định đó.

RFI: Tại sao anh lại cho là nhận định đó quá lạc quan ?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi sẽ làm thính giả giật mình, thậm chí khó chịu, nếu nói rằng chúng ta đang chứng kiến một hài kịch có nhiều cảnh nhiều màn của kinh tế thế giới.

- Thứ nhất, Tổ chức Hợp tác và Phát triển OCDE chủ yếu chỉ là một trung tâm nghiên cứu, được hình thành từ sau Thế chiến II bởi các nước kỹ nghệ hoá thuộc Bắc bán cầu, đa số tại Âu châu. Trong số 34 hội viên hiện hành có hơn hai tá là các nước Âu châu và trong các nước Âu châu ấy, chừng mươi quốc gia đang gặp nhiều vấn đề kinh tế, thậm chí bị nguy cơ khủng hoảng. Tôi không tin là OCDE đã tiên báo được mức độ trầm trọng của vụ khủng hoảng ở ngay tại sân nhà là Âu châu nếu ta đọc lại báo cáo của tổ chức này về nạn tổng suy trầm vừa qua.

- Cũng vì vậy, và đây là yếu tố thứ hai, họ dễ chột dạ về sự suy sụp của mình và dự báo chu kỳ thịnh vượng của các nước mới phát triển, trong đó có các nước tôi xin gọi là "tân hưng", tức là mới nổi, và các nước vừa chập chững bước vào giai đoạn phát triển. Hiện tượng này cũng giống như sự lạc quan của các định chế quốc tế khi nói về phép lạ kinh tế Đông Á ngay trước khi Đông Á bị khủng hoảng thời 1997-1998. Họ nhìn vào kính chiếu hậu, là dựa vào những dữ kiện kinh tế của quá khứ, như tốc độ tăng trưởng hoặc lượng hàng giao dịch của ngoại thương, để từ đó vạch ra đường tuyến cho tương lai trước mắt. Rồi kết luận rằng thế giới đang bước qua một trật tự mới với sức nặng của các nước đang phát triển.

- Thực tế thì các nước đi sau đều học được kinh nghiệm của các nước đi trước cho nên có thể đốt giai đoạn và khi bắt đầu bước vào chu kỳ phát triển thì đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn. Sau đó, thì họ cũng lại chậm nhịp phát triển khi bước vào giai đoạn trưởng thành như các nước kia. Tuy nhiên, khác với các nước kỹ nghệ hoá đã trước tiên dân chủ hóa và có ý thức xã hội cao độ, các nước đi sau lại không được như vậy! May là phúc trình của OCDE có cảnh báo điều ấy khi nhấ mạnh tới sự bất công tiềm ẩn trong đà tăng trưởng....

RFI: Đúng là anh hay có thói quen xối nước lạnh! Báo cáo của tổ chức OCDE có nói đến thành tích xoá đói giảm nghèo trong các nước đang phát triển và còn nêu ra một con số thực tế là các quốc gia này đang nắm giữ một lượng dự trữ ngoai tệ lớn hơn các nước gọi là giàu có. Trong khi ấy, ta thấy là các nước giàu có này giờ đây đang mắc nợ, từ Nhật Bản, Hoa Kỳ về tới nhiều nước Âu Châu. Anh không cho rằng đó là thành tích đáng kể và tiềm lực đáng tin sao ?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Báo cáo của OCDE tập trung vào thời khoảng hai chục năm qua, từ 1990 là khi Chiến tranh lạnh kết thúc đến 2008 là khi thế giới bị trận tổng suy trầm toàn cầu. Từ đó, họ vạch đường tuyến tương tự cho tương lai hai chục năm tới và vẽ ra triển vọng màu hồng cho các nước đang phát triển. Tôi thiển nghĩ là sự thật lại không lạc quan như vậy vì nhiều lý do.

- Thứ nhất, chính là nguyên lý kinh tế tự do và chính trị dân chủ của các xứ kỹ nghệ hoá, chủ yếu là Âu-Mỹ, đã lấy trớn phát triển cho các nước nghèo trong 60 năm vừa qua. Nhờ vậy mà dân số các nước nghèo đã tăng mạnh và tương đối có kiến năng cao hơn thế hệ trước. Trong khi ấy, các nước công nghiệp hoá - ngoại lệ là Hoa Kỳ nhờ chính sách di dân - lại thấy dân số co cụm dần, bị lão hoá, và ảnh hưởng tới năng suất. Nhờ đầu tư nhiều hơn và có dân số đông hơn - khoảng một tỷ rưỡi người đi vào thị trường lao động - các nước nghèo có thể đạt tốc độ tăng trưởng cao trong mấy chục năm liền. Nhưng khi họ bớt nghèo đi thì đà gia tăng dân số ấy cũng sẽ giảm, là chuyện ta bắt đầu thấy tại Trung Quốc. Và đà tăng trưởng cũng vậy.

- Thứ hai, nói về tài sản hay cụ thể là dự trữ ngoại tệ, ta không quên loại tài sản vô hình mà lại là then chốt cho phát triển và năng suất. Là kiến năng, kiến thức và khả năng. Các xứ tân hưng hay đang phát triển có thể nắm giữ một khối dự trữ ngoại tệ trị giá hơn 4.000 tỷ Mỹ kim hay ngoại tệ mạnh khác của các nước giàu. Nhưng họ làm chủ bao nhiêu bằng sáng chế trên thế giới? So với Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức hay thậm chí Nam Hàn, thì dự trữ về trí tuệ của các nước này không đáng kể. Nếu không đầu tư vào giáo dục và đào tạo để nâng cấp về trình độ sản xuất thì các nước này chỉ sao chép sáng kiến của Bắc bán cầu và bán hàng cho nhau với giá trị gia tăng thật ra cũng không cao. Thế giới bị mê hoặc bởi các doanh nghiệp Ấn Độ hay Trung Quốc đã đầu tư vào thị trường Âu-Mỹ, nào mua hãng xe hơi xứ này, mua công ty điện toán xứ kia, nhưng nếu tương lai các nước tân hưng này quả là sáng láng như vậy vì sao họ không đầu tư vào khu vực nội địa lạc hậu của họ để nâng mức sống và phẩm chất của đời sống cho cả tỷ dân của họ?

- Thứ ba và đây là yếu tố bi quan nhất, đó là những dị biệt quá lớn về lợi tức, nhận thức và quyền lợi của các nước tân hưng hay đang phát triển với nhau. Ngược với suy luận lạc quan của nhiều người, tôi trộm nghĩ rằng các nước càng buôn bán giao dịch với nhau thì tranh chấp về quyền lợi càng dễ xảy ra. Đó là kinh nghiệm của Âu châu vào đầu thế kỷ trước. Cũng do kinh nghiệm đắt đỏ ấy mà Âu châu trở thành dân chủ và hiếu hoà hơn ngay trong trường cạnh tranh kinh tế. Các nước đang phát triển chưa tiến tới giai đoạn ấy và mâu thuẫn của họ với nhau vẫn có thể xảy ra và càng dễ xảy ra trong lãnh vực kinh tế vì những chuyển dịch của sự giàu có. Bất ổn đó có thể làm gãy đường tuyến lạc quan của tổ chức OCDE! Xin nhắc lại là sau Thế chiến thứ nhất, năm 1920, không ai ở Âu châu có thể tin là Âu châu sẽ lại gặp đại chiến trong vòng 20 năm tới...

Mai Vân (RFI)

Thứ Sáu, 2 tháng 7, 2010

Nghệ thuật đòi nợ!



Chuẩn mực viết thư đã được lập ra vào thập niên 30 của thế kỷ trước. Và thời đó khác với bây giờ, đặc biệt là với thông tin văn bản.

Tình huống

Có lần, một nhóm tham gia hội thảo đã hỏi tôi:
- Thế bức thư nào có tác động nhất, theo ông?
- Có thể là bức thư như thế này: "Chào Ông. Ông đang nợ một khoản như thế này… Hãy thanh toán hết cho chúng tôi." Và ký tên.

Đương nhiên, đó là chuyện đùa thôi. Nhưng điều này chắc là sẽ có tác động đến người nhận. Bởi nó rất dữ dội.

Chuẩn mực viết thư đã được lập ra vào thập niên 30 của thế kỷ trước. Và thời đó khác với bây giờ, đặc biệt là với thông tin văn bản. Giờ đây, sau 7-10 năm, có rất nhiều văn bản buộc chúng ta phải đọc, nghĩa là mọi thứ đập vào mắt chúng ta, trên các phương tiện giao thông, phim ảnh, tivi, nói chung là những thông điệp mang tính chất quảng cáo. Và trong quảng cáo thì chỉ rặt những động từ (hãy chờ, hãy tin, hãy ăn, hãy cầm lấy…). Còn chúng ta trở nên dễ dàng lĩnh hội các văn bản ngắn gọn, cụ thể hơn là quảng cáo. Chúng ta trở nên khó lĩnh hội những văn bản dài dòng, đặc biệt là những văn bản luật. Tôi thường cảm thấy mệt mỏi và rối rắm khi đọc những văn bản như thế và không đủ kiên nhẫn để đọc hết. Càng trẻ trung bao nhiêu, con người ta càng thụ động hơn trong phản ứng với việc nhận thư từ bởi họ đang sống trong một thời đại khác – thời đại của tốc độ.

Hãy tạo ra một bức thư ngắn gọn, có nội dung và điều cơ bản là, phải kích động.



Các thể loại thư từ

Thư thứ nhất: Thăm hỏi

Trong một số trường hợp, thật có lợi nếu tạo ra bức thư đặc biệt mà với nó, bạn có thể thông báo cho khách hàng biết rằng họ đã thỏa thuận hợp tác với công ty bạn. Hãy tỏ ra vui vẻ lịch thiệp thông báo với họ rằng thời hạn thanh toán được gia hạn, mức tín dụng như thế nào… Hãy gửi những bức thư như vậy cho kế toán trưởng hoặc một người nào đó chịu trách nhiệm thanh toán khỏan nợ cho công ty bạn.

Thư thứ hai: Nhắc nhở

Các nguyên tắc chính:
1. Hãy tỏ ra thiện chí.
2. Hãy viết ngắn gọn .
3. Hãy nhắc nhở khách hàng về nội dung cơ bản của thỏa thuận.
4. Hãy để lộ rằng bạn tin tưởng khách hàng sẽ thanh toán khoản nợ.

Thư thứ ba: nhắc nợ gay gắt

Các nguyên tắc chính:
1. Hãy tỏ ra nghiêm khắc, viết ngắn gọn, nhưng cặn kẽ, súc tích.
2. Đính kèm phiếu thanh toán.
3. Nhắc lại các điều khoản hợp đồng.
4. Yêu cầu hoàn tất việc thanh toán ngay lập tức, hoặc gửi kế hoạch thanh toán (thư bảo đảm).
5. Hãy nằng nặc đòi thanh toán hoặc đòi phải trả lời bằng văn bản.

Thư thứ tư: Yêu cầu

Các nguyên tắc chính:
1. Hãy yêu cầu cụ thể và dứt khoát.
2. Hãy yêu cầu (tối thiểu) thanh toán một phần khoản nợ ngay lập tức.
3. Hãy sử dụng các công cụ gây tác động trực quan (hãy làm nổi bật bức thư của mình trong đống thu từ).
4. Nên đính kèm bản sao phiếu nợ.
5. Thông báo về ngày bắt đầu có hiệu lực của các hoạt động kiện tụng ra tòa.
6. Hãy giải thích cho khách hàng biết cách làm thế nào để tránh được kiện tụng (thanh toán ngay).

Tác dụng của chữ ký

Nếu tôi gửi cho bạn bưu thiếp chúc mừng ngày lễ vớ chữ ký là Mikhail thì điều này không trung hòa tý nào. Còn nếu tôi viết dòng "Trưởng phòng kinh doanh Mikhail" thì bạn có thể nghĩ "Họ đang muốn bán món gì đây". Nếu tôi ký "Chủ tịch công ty" thì bạn sẽ nghĩ rằng "À, họ tôn trọng mình". Còn nếu tôi ký " Trưởng phòng tín dụng" thì hẳn bạn sẽ tỏ ý nghi ngờ "Khoản nợ nào đây?" Nếu tôi ký "Luật sư" (Trưởng bộ phận pháp chế) thì điều này thường gợi cho người nhận mong muốn đọc lại văn bản một lần nữa: "Ý họ định nói gì giữa các dòng kia?" Tôi muốn bạn lưu ý đến tác dụng của chữ ký. Còn nếu nói điều gì hiệu quả hơn cả thì chúng ta có thể bắt đầu từ lá thư thứ hai, tốt hơn là có chữ ký của luật sư. Điều này khiến con nợ có cảm giác rằng, những gì bạn nói trong thư là rất nghiêm túc và chuyên nghiệp.

Như vậy, chữ ký xác lập văn cảnh của lá thư và tác động đến người nhận: tác động "mềm" nếu bức thư được ký bởi đại diện của bộ phận khách hàng (bộ phận bán hàng), vì với bức thư thế này, khách hàng sẽ nghĩ rằng, công ty quan tâm đến họ như một khách hàng chứ không phải đang mong được trả nợ.

Bức thư được ký bởi lãnh đạo công ty thường tạo ra ấn tượng trung hòa chính đáng. Một số người nghĩ rằng, chữ ký của lãnh đạo công ty thường mang tính chất hình thức, rằng đằng sau những chữ ký như vậy không tồn tại sự kiểm soát công nợ nào.

Hiệu quả hơn có lẽ là những bức thư được ký bởi "chuyên viên tín dụng". Chuyên môn của người ở vị trí này có thể tạo ra hiệu ứng tốt đối với các nhân viên của công ty – con nợ.

Hiệu quả gay gắt hơn là những bức thư được ký bởi "luật sư" hoặc "Trưởng bộ phận pháp chế".

Tôi cũng muốn nhắc nhở các bạn một chút rằng, trong khi nói chuyện điện thoại/nói chuyện riêng với khách hàng – con nợ, nên sử dụng động từ. Nhiệm vụ của bạn không chỉ đơn thuần là viết thư mà là kích động họ trả nợ. Danh từ chỉ có chức năng thông báo, còn động từ thường kích động hơn, vì thế, nên sử dụng động từ.

Các phương pháp tạo ra sự khác biệt giữa thư đòi nợ và các loại văn bản, giấy tờ khác
Ta có thể tác động đến người nhận thư như thế nào?

Đương nhiên, cách chúng ta gửi thư cũng đóng vai trò quan trọng. Bức thư nghiêm trọng nhất có lẽ là bức thư được gửi qua nhân viên giao nhận (messenger). Khi đó, khách hàng – con nợ phải ký xác nhận vào tờ biên nhận. Cũng cần phải chú ý chi tiết này: nhân viên giao nhận phải "hành xử" đúng cách – giao văn bản đúng đối tượng, điều này tạo ra tác dụng về tâm lý đối với người nhận thư.

Phương pháp đơn giản nhất để làm nổi bật bức thư từ một mớ văn bản – sử dụng các loại giấy đặc biệt. Nếu như bạn sử dụng không phải là loại giấy A4 mà là В4 (format theo kiểu Mỹ) hay loại đặc biệt khác, lúc đó, người nhận sẽ giữ lá thư trong tay và hiểu rằng có điều gì đó đặc biệt hơn những thứ hàng ngày anh ta vẫn nhận. Điều này tạo ra sự chú ý hơn của người nhận đối với văn bản.

Một số công ty sử dụng các tờ giấy dán mua sẵn lên bì thư với thông tin được thể hiện trên đó rằng, bức thư này (thư nhắc nợ) nằm dưới sự kiểm soát đặc biệt. Điều này có vẻ như rất khác biệt so với chuẩn văn bản thông thường, nhưng lại rất hiệu quả. Nếu như bạn muốn sử dụng phương pháp ít tốn kém thì nên đặt mua một con dấu màu xanh có dòng chữ: "Văn bản này được Bộ phận Kiểm soát tín dụng giám sát chặt chẽ". Bạn cũng có thể lập phiếu thanh toán có đề thời hạn rồi đóng dấu "Phiếu nhắc nợ lần…" Hoặc trong suốt bức thư, bạn cũng có thể sử dụng những dòng chữ màu được tạo ra một cách cố ý với mục đích nhắc nợ.

Cũng có thể có nhiều phương pháp khác có tác dụng. Một trong số đó được áp dụng khi bạn có nhiều con nợ. Bạn có thể tạo ra một bưu thiếp, trong đó viết rõ cách thức "Hãy thanh toán nợ". Phương thức này tạo ra tác dụng tâm lý đối với người nhận.

Nhưng nếu nói về các phương thức chủ đạo, có lẽ tôi cần phải nhắc lại một chút rằng, chúng ta vẫn còn phong bì của bức thư. Trên phong bì, bạn có thể để dòng chữ màu đỏ, kiểu như "Thư nhắc nợ". Và như vậy, rõ ràng là phong bì thư gắn liền với việc giám sát công nợ. Phong bì màu đen thường tạo ra tác động mạnh. Tôi sẽ kể cho các bạn nghe về chuyện này, bởi vì tôi đã từng nhận một chiếc phong bì như vậy.

Khoảng chừng mười một năm về trước, tôi làm việc cho một công ty, và vào buổi sáng, tôi có cuộc hẹn. Nhưng tôi không đến vào buổi sáng sớm (tôi có cuộc gặp với khách hàng). Tôi nhớ là, khi bước vào văn phòng, mọi người có vẻ rất bận bịu, một cô bé đồng nghiệp bước tới chỗ tôi nói:

- Misa, trên bàn anh có "cái đó" đấy!

Tôi cảm thấy thật thú vị. Bàn làm việc của tôi luôn sạch sẽ, ngăn nắp, và bởi vậy mà sự hiện diện của chiếc phong bì màu đen trên bàn tạo ra một sự khác biệt thật sự. Khi nhìn thấy lô gô trên bì thư, tôi liền hiểu rằng, đơn giản đó chỉ là giấy mời đi triển lãm. Đó là bức thư từ một trong những khách hàng của tôi. Sự việc này khiến tôi nhớ rất lâu, và nó rất quan trọng khi ta muốn nhớ.

Cũng có một công ty đã sử dụng mùi vị để gửi thư. Hãy thử hình dung: gửi cho khách hàng mùi cá ươn hoặc một thứ gì đó không được dễ chịu lắm. Đương nhiên, tình thế này cho ta biết rằng, mối quan hệ của hai bên không thể là chuyện "cơm lành canh ngọt" được.

Giả dụ bạn phải làm việc với các tổ chức có cơ cấu phát triển nhiều tầng và bạn muốn hiểu bức thư của mình tác động thế nào đến cơ cấu nhiều tầng lớp này, hãy thử nhớ lại bộ phim "Nhà tù Shawshank" (The Shawshank Redemption) được chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của Steven King để tìm cho mình phương thức hợp lý nhất.

Nhân vật chính của bộ phim – một tù nhân – kẻ "thấp cổ bé họng" và đáng khinh miệt nhất trong xã hội với hai án chung thân, đang chết héo trong nhà tù Shawshank. Anh ta viết một bức thư cho thượng nghị viện của bang (cơ quan cao nhất trong bậc thang xã hội). Anh ta viết mỗi tuần một bức thư, đúng tuần tự như vậy. Sau 1 năm 4 tháng, thượng nghị viện quyết định gửi cho tên tù nhân một tấm séc trị giá 50 đô la. Người tù hiểu rằng, anh ta đã được để ý đến. Vậy anh ta phải bắt đầu làm gì đây? Anh ta viết hai bức thư mỗi tuần. Và sau bốn tháng, người ta gửi đến cho anh ta một đống tiền – khoản tiền cần thiết cho việc cải tạo, nâng cấp thư viện nhà tù.

Lá thư có thể được coi là phương tiện lý tưởng để tác động đến ai đó. Những giấy tờ đơn giản thường không được để ý lắm trong các cơ quan tổ chức. Người ta nhận công văn, xếp chúng vào tập bìa còng rồi quên bẵng chúng. Và chúng sẽ chẳng có tác động gì đến tổ chức họ nếu những lá htư này cứ nằm yên trong tập hồ sơ. Nhưng nếu như bạn "dội bom" bằng việc gửi nhiều thư nhắc nợ, tập bìa còng kia sẽ đầy. Người ta buộc sẽ phải tạo ra một tập bìa còng riêng biệt cho bạn bởi bạn viết quá nhiều. Hiệu ứng này được gọi là "hiệu ứng bìa còng" và chắc chắn nó luôn gợi cho khách hàng của bạn nhớ tới sự hiện diện của những bức thư nhắc nợ dày cộp trong tập bìa còng. Trong các tổ chức nhiều tầng lớp, chi nhánh, bạn nên duy trì cách gửi thư liên tục.

Thư điện tử



Nguyên tắc chung

1. Tần suất và áp lực : Bạn có thể gửi nhiều thư nhắc nợ qua Internet, tuy nhiên, cũng nên lưu ý rằng, "trận dội bom" của bạn có thể khiến khách hàng – con nợ chán ngán mỗi khi nhìn thấy thư của bạn. Bạn có thể nhắc khéo, và lập tức chấm dứt "trận dội bom" nếu khoản nợ đã được thanh toán.

2. Viết rất ngắn (bức thứ nhất có thể cụ thể một chút, còn các thư sau nên chỉ vài ba dòng)

3. Post Scriptum (P/S) là bắt buộc

4. Sử dụng màu nền cho bức thư và nội dung
Thư điện tử có nhiều lợi thế cho bạn khi chọn lựa màu. Bạn có thể sử dụng nền chuẩn và tạo ra cho mình sự hòa trộn giữa màu chữ cũng như nền thư. Hãy thử pha một chút màu đỏ hơn, một chút màu đen hơn và một chút vàng hơn.

Sự khác biệt duy nhất trong thư điện tử sẽ là những gì mà chúng ta viết ở dòng "ra lệnh" Nội dung bức thư điện tử hầu như không khiến tôi bận tâm, nhưng tôi lại rất quan tâm đến dòng tiêu đề của nó. Cũng giống như trong sms, điều quan trọng là ở đó có dòng "ra lệnh" theo kiểu tái bút: "hãy thanh toán ngay cho SSS khoản tiền …trước ngày…." . Phương pháp này khá là hữu hiệu. Và cho dù người nhận không đọc nội dung bức thư thì họ không thể nào không đọc dòng tiêu đề được. Và chắc chắn là dòng tiêu đề đó ít nhiều có tác động đến họ.

Theo saga.vn

Thứ Ba, 15 tháng 6, 2010

Marketing không tốn tiền



Có cách nào để có thể làm marketing mà không tốn tiền không? Làm thế nào để công ty không phải nợ nần vì mất nhiều chi phí vào việc tìm thị trường?

Khi nói đến quảng bá thương hiệu, nhiều người cảm thấy chùn bước khi nghĩ đến chi phí hàng tỉ đồng cho các mẫu quảng cáo trên TV, báo chí hay các sự kiện quảng bá trên cả nước…

Thực tế là hầu hết các hoạt động marketing đều tốn kém, dù ít dù nhiều bạn cũng phải bỏ ra một ít chi phí. Tuy nhiên, có một số cách ít tốn kém, thậm chí là không tốn một xu nào mà bạn vẫn đạt được mục đích cuối cùng là mang thương hiệu đến gõ cửa nhà người tiêu dùng.

Những bí quyết dưới đây có thể không bắt bạn phải trả tiền nhưng bạn sẽ phải dành thời gian cho nó. Hãy chuẩn bị tinh thần nhé.

Những bí quyết này phù hợp cho cả những công ty mới thành lập. Hãy bắt tay ngay từ bây giờ và thực hiện từng việc một. Bạn sẽ có kết quả không ngờ.

1.Xây dựng mạng lưới tại các sự kiện: Bạn hãy tham dự vào các hội thảo của Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các cuộc gặp của các hiệp hội doanh nghiệp, các tổ chức do doanh nhân thành lập.

Tại đó, bạn có thể tìm cách gây sự chú ý của khách hàng và thu hút khách hàng. Hãy xin danh thiếp của các giám đốc, những người tham dự hoặc có mặt tại các sự kiện này, sau đó bạn nên viết thư hoặc gọi điện để giữ liên hệ.

Hãy làm việc này ngay lập tức. Nếu những "khách hàng" tiềm năng không thể sử dụng dịch vụ hoặc sản phẩm của bạn ngay, hãy nhờ họ tư vấn xem liệu có một ai đó có thể cần tới dịch vụ của bạn và xin họ thông tin về đối tượng đó.

2. Tham dự các cuộc gặp gỡ công chúng: Tại các cuộc tiếp xúc với công chúng, việc đưa ra các cam kết sẽ rất có ích để gây được sự quan tâm của những người tham dự. Đây là một cách không chỉ có thể giúp bạn chia sẻ hiểu biết của mình mà còn có thể giúp người khác từ những thông tin của bạn, đồng thời cũng làm cho mọi người biết đến dịch vụ của bạn.

3. Phát những tài liệu có ích: Khi những tài liệu của bạn phát đi, người ta chỉ giữ lại chúng vì chúng có ích cho họ, bằng không họ sẽ cho nó vào thùng rác. Ví dụ, với người làm công việc tư vấn kinh doanh, có thể tài liệu phát đi là "Top 10 bí quyết Marketing mà đối thủ của bạn muốn biết". Hãy đảm bảo là tên, số điện thoại, email, website của bạn được ghi đầy đủ trên tài liệu này.

4.Xây dựng liên doanh: Bạn hãy tìm đồng nghiệp hoặc các doanh nghiệp khác làm cộng sự để cùng hợp tác phát triển. Ví dụ những người làm phần mềm thì có thể kết hợp với những người thiết kế web. Những người làm thiết kế lại có thể kết hợp với người làm copywriter. Bạn thử tìm xem ai có thể làm đối tác với bạn được nhé.

Theo vietnambranding.com

Thứ Bảy, 12 tháng 6, 2010

10 cạm bẫy luôn chờ doanh nhân mới


Ảnh minh họa.

Không thèm viết kế hoạch kinh doanh, muốn có lãi ngay, thích kiểm soát mọi hoạt động của công ty là những sai lầm có thể bóp chết doanh nghiệp mới thành lập.

Hy vọng thường tới sau mỗi dịp năm mới. Một số người sẽ cảm thấy yêu quý hơn những công việc tẻ nhạt hàng ngày. Nhiều chủ nhà dọn dẹp nhà kho ẩm mốc, còn một số cô gái có can đảm cắt đứt quan hệ với chàng người yêu bê tha hoặc bất tài. Nhưng một số người lại từ bỏ công việc làm thuê để lập doanh nghiệp cho bản thân.

Lập công ty là công việc đầy mạo hiểm trong mọi môi trường. Nó đòi hỏi tầm nhìn, vốn, sự can đảm, lòng tin và thậm chí cả tính kiêu ngạo. Trên thực tế, sự thiếu tự tin có thể bóp chết một công ty non trẻ. Nhưng quá tự tin đến mức thái quá cũng sẽ đẩy các doanh nhân mới vào những sai lầm tai hại. Làm thế nào để đạt được sự cân bằng giữa tự tin và kiêu căng? Theo các chuyên gia của tạp chí Forbes, có 10 cạm bẫy cổ điển mà người mới gia nhập thương trường nên tránh.

1. Coi thường kế hoạch kinh doanh

Bạn nghĩ rằng kế hoạch kinh doanh là thứ chỉ dành cho các nhà đầu tư? Nếu quả thật bạn nghĩ vậy thì chắc chắn bạn sai. Kế hoạch kinh doanh là thứ đầu tiên và cơ bản nhất mà mọi doanh nhân cần có. Soạn thảo kế hoạch kinh doanh buộc các tân doanh nhân suy nghĩ về mọi vấn đề cơ bản – từ tài chính, tiếp thị cho tới nhân sự. Kế hoạch kinh doanh cũng giúp bạn truyền tải tầm nhìn và quan điểm kinh doanh tới những người làm thuê, kế toán viên, luật sư, đối tác và những đối tượng khác.

Ngoài ra, việc viết kế hoạch kinh doanh cũng cho phép doanh nhân đánh giá khả năng hoạt động của công ty. Nếu ai đó không thể đánh giá hoạt động của công ty, chắc chắn người ấy không thể quản lý nó.

2. Phải có lãi ngay

Một người nghiên cứu thành công một loại thuốc chống hói mới và nghĩ rằng nó thật sự ưu việt hơn hẳn những loại thuốc chống hói hiện có. Vì thế anh ta quyết định thành lập công ty để sản xuất thuốc chống hói mới và tin chắc sẽ hốt bạc trong tương lai gần. Nhưng đó chỉ là suy nghĩ của một cá nhân. Những người bị hói chưa chắc chấp nhận mức giá mà vị doanh nhân kia đưa ra, hoặc không quan tâm tới sản phẩm bởi họ chưa biết nhiều về nó. Có thể vị doanh nhân vẫn bán được sản phẩm, nhưng với mức giá thấp đến nỗi anh ta không có lãi sau khi trừ chi phí sản xuất, tiếp thị và phân phối. Có thể sản phẩm của bạn rất tốt và rẻ, song bạn sẽ khó thành công nếu chưa hiểu thị trường. Vì thế, thay vì tưởng tượng tới một viễn cảnh sáng lạn, việc đầu tiên mà bạn cần làm là nghiên cứu thị trường và đánh giá cơ hội của sản phẩm hoặc dịch vụ mới.

3. Sản phẩm hoàn hảo nên chẳng cần tiếp thị

Ngày nay người ta thường nhắc đến một thuật ngữ khá phổ biến là “tiếp thị miệng”. Có thể hiểu nôm na thuật ngữ này như sau: “Chúng ta không tiến hành hoạt động tiếp thị, nhưng sản phẩm của chúng ta tuyệt vời đến nỗi mọi người sẽ biết tới nó thông qua tiếp thị miệng và các mạng xã hội”. Nhưng thực tế không đúng như thế. Tiếp thị miệng chỉ thực sự phát huy tác dụng sau khi công ty tiến hành một dạng tiếp thị nào đó và chi những đồng tiền thực.

4. Ta chẳng có đối thủ cạnh tranh

Những nhà đầu tư mạo hiểm nghe câu nói này hàng trăm lần. Có một thực tế mà mọi doanh nhân mới nên biết: Đối thủ cạnh tranh có thể là nhà sản xuất sản phẩm, dịch vụ cùng loại hoặc nhà cung cấp sản phẩm, dịch vụ khác biệt nhưng có thể thay thế sản phẩm, dịch vụ của bạn. Nếu bạn không thể xác định được đối thủ cạnh tranh thì có thể do hai nguyên nhân: Bạn không tìm kiếm họ hoặc chẳng có thị trường nào dành cho sản phẩm, dịch vụ của bạn.

5. Tôi phải kiểm soát mọi hoạt động của công ty

Vô số công ty có khởi đầu đầy hứa hẹn nhưng chẳng bao lâu sau rơi vào cảnh phá sản do thiếu vốn đầu tư. Nguyên nhân là người sáng lập công ty không chịu nhường vị trí giám đốc điều hành cho một người có kinh nghiệm và tài năng hơn để nhận một khoản đầu tư lớn. Những doanh nhân ít vốn nhưng thích làm giám đốc điều hành nên nhớ rằng trong nhiều trường hợp họ nên hy sinh lợi ích trước mắt để bảo đảm sự tồn tại của công ty.

6. Chúng ta quá khôn ngoan nên các hãng lớn chẳng làm gì được

Thông thường các công ty lớn không phải là hiểm họa đối với sự tồn tại của các doanh nghiệp mới bởi cơ hội của các doanh nghiệp mới quá nhỏ để có thể đe dọa vị thế hàng đầu của họ. Phục vụ tốt một bộ phân khách hàng tương đối nhỏ có thể tạo ra mức lợi nhuận thấp song bền vững. Nhưng một công ty tin học mới gặt hái một vài thành công không nên tự mãn tới mức cho rằng họ đủ sức cạnh tranh ngang ngửa với những “đại gia” như Microsoft hay IBM. Nếu một chủ doanh nghiệp mới nào đó nghĩ như vậy, tốt hơn anh ta không nên để các nhà đầu tư biết, kẻo họ lại nghĩ họ đang gửi gắm tiền tiết kiệm cho một doanh nhân không thực tế.

7. Sản phẩm của ta nhiều tính năng hơn mọi đối thủ

Một công ty tìm tất cả tính năng của những sản phẩm cùng loại đang có trên thị trường rồi gộp tất cả những tính năng ấy vào một sản phẩm mới. Sau đó chủ công ty tin rằng sản phẩm của anh ta sẽ giành lợi thế trên thị trường vì nó sở hữu nhiều tính năng hơn mọi sản phẩm cùng loại. Nhưng thực tế là việc tiếp thị hàng đống tính năng chỉ khiến khách hàng cảm thấy bối rối. Đấy là chưa kể tới việc bạn sẽ phải chi hàng núi tiền để chuyển sang sản phẩm hoặc dịch vụ mới. Trong nhiều trường hợp sản phẩm càng đơn giản càng dễ bán.

8. Ta có lợi thế của người đi trước

Câu này có vẻ đúng, nhưng thực tế là chúng ta chỉ duy trì được lợi thế của kẻ tiên phong nếu công ty sở hữu bằng sáng chế hay một thứ gì đó mang lại ưu thế lâu dài. Trong trường hợp ngược lại, chính bạn cũng chẳng rõ bạn có lợi thế gì.

9. Chỉ nên mạo hiểm bằng tiền của người khác

Đầu tư tiền túi là cách để bạn cho các cổ đông của công ty thấy sự khác biệt giữa khái niệm "tham gia" và "cam kết" trong kinh doanh. Mọi cổ đông đều muốn nhìn thấy chủ doanh nghiệp đầu tư bằng tiền riêng để thể hiện mức độ "cam kết". Vì thế bạn không nên nghĩ "tôi chả việc gì phải mạo hiểm bằng tiền của mình".

10. Có thể thư giãn khi công ty có lãi

Công việc thực sự của một doanh nhân chỉ thực sự bắt đầu khi công ty có thu nhập. Nhưng ngay sau đó bạn sẽ phải làm vô số việc như quản lý các ngân quỹ, thực hiện các kế hoạch, truyền cảm hứng cho nhân viên. Mọi nhà đầu tư sẽ cảm thấy bất an nếu chủ doanh nghiệp có tư tưởng hưởng thụ khi công ty mới bắt đầu có lãi.

Thái Dương (theo Forbes)

Thứ Hai, 31 tháng 5, 2010

Bài học từ khủng hoảng



Nền kinh tế toàn cầu không thể thoát khỏi quy luật tăng trưởng rồi suy tàn. Khi khủng hoảng xảy ra, người ta coi đó như hậu quả tất yếu sau một kỳ tăng trưởng nóng và là dấu hiệu tốt cho thấy một sức sống mới sắp bắt đầu.

Từ đó, khủng hoảng được coi là biện pháp đào thải hiệu quả để loại bỏ một số phần tử yếu kém, lạc hậu và chỉ có những gì thực sự khỏe mạnh mới có thể tồn tại.

Có người cho rằng nguyên nhân khủng hoảng là do cách điều hành nền kinh tế thiếu hợp lý sau một thời gian phát triển quá nóng. Có người lại nói khủng hoảng là kết quả của những mưu đồ chính trị hoặc trục lợi của một số tổ chức, cá nhân có tầm ảnh hưởng tài chính rộng lớn. Keynes - nhà quý tộc đại diện cho bộ tài chính nước Anh, đồng tác giả cùng với các ngân hàng tư bản tạo ra cuộc Đại Suy thoái năm 1929, đã lập luận rằng: “Làm đồng tiền giảm giá, tạo ra lạm phát liên tục là có thể kín đáo tước đoạt một phần tài sản của công dân. Trong quá trình bần cùng hóa nhân dân, một số ít người sẽ giàu to. Không có thủ đoạn nào lại có thể lật đổ chính quyền một cách kín đáo, chắc chắn và thành công bằng lạm phát. Quá trình này tích lũy các nhân tố phá hoại theo quy luật kinh tế. Hàng triệu người chưa chắc đã có một người nhận ra nguồn gốc của vấn đề”.

Trong con người luôn tồn tại cái thiện và cái ác, lòng tham và lòng nhân từ. Chu kỳ tăng trưởng và suy thoái kinh tế chính là kết quả đấu tranh bên trong bản chất của con người. Cho dù nguyên nhân có là do chính sách sai lầm vô tình hay cố ý thì việc xác định bản chất của khủng hoảng và tăng trưởng sẽ giúp ta phòng tránh trước những hậu quả suy thoái kinh tế nặng nề.

Có nhiều dấu hiệu tăng trưởng và biện pháp điều tiết của các nhà hoạch định chính sách sớm bộc lộ một chu kỳ khủng hoảng sắp bắt đầu: Tiền được phát minh để phục vụ cho nhu cầu cần thiết của việc trao đổi hàng hóa. Lịch sử đồng tiền đã trải qua hàng nghìn năm phát triển với những quy định trong một trò chơi mà người ta thường gọi là chính sách tiền tệ. Ai nắm quyền kiểm soát đồng tiền sẽ nắm quyền kiểm soát vận mệnh quốc gia. Điều tiết tiền tệ là công cụ mang lại nhiều lợi ích to lớn cũng như hậu quả khó lường đòi hỏi nhà hoạch định chính sách phải biết sử dụng thành thạo và tùy biến trong từng trường hợp.

Một chế độ tiền tệ nới lỏng trong thời gian dài với những chính sách bơm tiền ra ngoài xã hội, duy trì vay nợ với lãi suất thấp... sẽ tạo ra một lượng tiền ảo lớn vượt quá thực tế giá trị của cải xã hội, dẫn đến hậu quả tất yếu là lạm phát. Khối lượng hàng hóa do xã hội sản xuất là có hạn, do bị đầu cơ và sử dụng vô tội vạ đã dẫn đến khan hiếm và đẩy giá thành tăng vọt. Giá trị đồng tiền bị giảm sút nghiêm trọng. Khi đó luồng tiền tất nhiên sẽ chảy vào những nơi lưu giữ mà giá trị của nó ít bị ảnh hưởng như vàng, trái phiếu chính phủ...

Tính mất cân đối trên toàn cầu giữa các nước giàu thực sự do của cải vật chất và các nước giàu do tiêu dùng giá trị ảo của đồng tiền. Nói cách khác, trung tâm của khủng hoảng sẽ xảy ra ở những nơi mà nền kinh tế phát triển dựa trên đầu cơ dàn trải, luồng vốn chảy vào ồ ạt, các chế độ kiểm soát tiền tệ nới lỏng nhằm phát triển kinh tế với giá trị ảo. Trên thương trường, đồng tiền luôn sinh lời, chính vì vậy khi một luồng vốn lớn tích tụ tại một nơi sẽ dẫn đến việc phải xoay xở để tìm phương cách đầu tư. Lòng tham của con người chạy theo lợi nhuận ảo sẽ dẫn đến khủng hoảng bong bóng.

Chính sách hoạch định phát triển kinh tế luôn quyết định chu kỳ của khủng hoảng. Việc vay mượn luồng vốn từ nước ngoài hoặc từ các tổ chức để phát triển kinh tế thiếu kiểm soát sẽ dẫn đến bùng nổ kinh tế ảo và xảy ra khủng hoảng. Thay vì dùng tiền vay mượn để đầu tư vào việc nâng cao giá trị sản xuất, hoặc chất xám của con người nhằm tăng khả năng cạnh tranh và sáng tạo, làm ra của cải vật chất đích thực cho xã hội sau khi đã trả gốc và nợ vay, thì một số nước lại dùng tiền vay mượn để đầu cơ vào những giá trị ảo như bất động sản, vẽ ra các dự án để đầu tư và bán lại kiếm lời, cho vay lãi, đầu tư vào chứng khoán... dẫn đến khủng hoảng là tất yếu.

Nhiều người cho rằng phương cách mà Mỹ đang làm là bơm tiềm ra để đối phó với khủng hoảng hiện nay nhằm kích thích lại tiêu dùng, nâng cao sản xuất... đẩy nền kinh tế đi lên sẽ là nguyên nhân cho các cuộc khủng hoảng kế tiếp. Xét về ngắn hạn thì dân Mỹ hiện nay thấy cuộc sống được cải thiện rõ nhưng về tương lai dài hạn thì việc vay mượn từ phát hành trái phiếu, in tiền, kêu gọi đầu tư,... sẽ là gánh nặng trả nợ cho thế hệ trẻ của Mỹ sau này. Thói quen tiêu dùng sẽ ăn sâu vào phong cách sống với những giá trị ảo của người dân dẫn đến một vòng luẩn quẩn “Phát triển - nóng - lạm phát - trì trệ - khủng hoảng - phát triển trở lại”.

Chính trị và kinh tế luôn ảnh hưởng qua lại với nhau. Kết quả tăng trưởng ấn tượng hay suy thoái của nền kinh tế là bệ phóng tốt cho sự công kích của các đảng phái tranh giành quyền lực ở mọi nước tư bản. Lợi dụng tình hình kinh tế để đưa ra những chính sách đánh vào tâm lý mong đợi của dân chúng là cách tốt nhất để giành phiếu bầu. Có thể mỗi đảng đều có lý lẽ riêng nhưng nếu họ vẫn đi theo đường lối chung là phát triển kinh tế dựa vào đầu tư giá trị ảo thay vì kích thích sản xuất của cải vật chất thực sự cho xã hội thì kết quả vẫn sẽ giống nhau.

Các sự kiện lớn là cơ hội phát triển kinh tế nhưng đôi khi lại là hậu họa nếu không biết tận dụng đúng cách. Olympic là một cơ hội vàng cho sự phát triển kinh tế của bất cứ quốc gia chủ nhà nào nắm quyền đăng cai. Trung Quốc là một trong những nước tận dụng cơ hội vàng thành công trong năm 2008 vừa qua. Bốn năm chuẩn bị là bốn năm để nước đăng cai nâng cao môi trường sống, văn hóa, trang thiết bị vật chất, công nghệ, khả năng tài chính kinh tế. Đó là cơ hội vàng để kêu gọi đầu tư về tiền bạc, công nghệ, quảng bá hình ảnh của đất nước, phát triển du lịch, tạo công ăn việc làm và xây dựng cơ sở hạ tầng cũng như nâng cao đời sống dân sinh. Trung Quốc đã có một bước phát triển thần kỳ trong bốn năm với tốc độ phát triển hai con số thật ấn tượng. Tuy nhiên nhiều chuyên gia kinh tế lại cho rằng, đằng sau sự phát triển thần kỳ đó, Trung Quốc sẽ phải đối mặt với tình hình nền kinh tế phát triển chậm lại giống như những nước từng là chủ nhà của Olympic trước đây nếu không có chính sách phát triển đúng đắn.

Việc đẩy mạnh đầu tư trước Olympic cùng với sự gia tăng về doanh số, doanh thu, hoạt động đầu tư và tiêu dùng sẽ có xu hướng chững lại sau kỳ Olympic. Sử dụng chi phí bảo trì của các dự án khổng lồ chỉ phục vụ cho kỳ Olympic sẽ là một gánh nặng gây ra nhiều lãng phí to lớn và lâu dài. Riêng ngành kinh doanh khách sạn sẽ bị sụt giảm nghiêm trọng do lượng đầu tư vào dịch vụ du lịch nở rộ chỉ phục vụ cho một lượng khách đột biến trong kỳ Olympic.

Những chất xúc tác khó kiểm soát như thiên tai, dịch bệnh, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên cũng góp phần làm thổi bùng ngọn lửa khủng hoảng. Sau một thời gian dài phát triển kinh tế nóng, nhu cầu tiêu dùng của xã hội tăng cao sẽ khiến cho nhu cầu về sử dụng tài nguyên như dầu lửa, đồ ăn thức uống ngày một lớn. Tuy nhiên vì mức sản xuất của xã hội và tài nguyên có hạn do con người chú trọng đầu cơ vào những giá trị ảo như bất động sản, chứng khoán nên giá cả các mặt hàng thiết yếu ngày một tăng. Giá trị đồng tiền vì thế mà ngày càng sụt giảm do đã vượt quá giá trị thực. Thiên tai và dịch bệnh ập đến cộng với giá cả các mặt hàng lương thực, dầu lửa, v.v… tăng cao khiến cho cuộc sống khó khăn, sức lao động giảm sút, sức khỏe của nền kinh tế bị ảnh hưởng. Vì nội tại của nền kinh tế đã phát triển quá nóng nên khi bị những yếu tố ngoại cảnh tác động sẽ bộc lộ bản chất yếu kém.

Có nhiều phương thức thường được áp dụng để vượt qua khủng hoảng kinh tế do chính sách tiền tệ gây ra. Trải qua những biến cố khủng hoảng lịch sử, ta thấy có một số phương thức chống khủng hoảng chung thường được áp dụng. Tuy nhiên, tùy từng đợt khủng hoảng khác nhau, các nhà hoạch định chính sách lại bổ sung thêm phương thức chống khủng hoảng đặc trị phù hợp với hoàn cảnh. Phương thức chống khủng hoảng giống như một đơn thuốc mà những thầy thuốc là nhà hoạch định chính sách có thể gia giảm thêm một số loại thuốc phụ trợ bên cạnh những loại thuốc chính để điều trị hiệu quả nhất cho căn bệnh khủng hoảng và suy thoái kinh tế vào từng giai đoạn khác nhau. Trong đó các phương thức phổ biến như:

- Thắt chặt chế độ tiền tệ: Đây là biện pháp được dùng đầu tiên và chính yếu trong tình trạng nền kinh tế đang phát triển quá nóng, lạm phát gia tăng. Các ngân hàng cho vay quá nhiều dẫn đến tình trạng thiếu lượng vốn cần thiết để duy trì hoạt động hay nói cách khác là thiếu tính thanh khoản trong hệ thống ngân hàng. Ngân hàng thể hiện sức khỏe của nền kinh tế, khi nó ốm yếu có nghĩa là nền kinh tế đang lâm nguy.

- Tiết kiệm chi tiêu: Trong lúc khó khăn, tiết tiệm được coi là quốc sách. Tại sao mỗi khi khó khăn con người mới nghĩ đến tiết kiệm như một giải pháp chứ không phải là một thói quen? Nếu mọi người đừng tiêu xài hoang phí và sử dụng tiền không phải của mình đầu tư nhằm sinh lời ảo thì có lẽ đã không xảy ra khủng hoảng kinh tế. Khi khủng hoảng, con người mới nhận thấy rõ nhất giá trị thực của nền kinh tế, giá trị thực tài sản của mình và bắt đầu biết quý trọng, tiết kiệm những đồng tiền mồ hôi nước mắt khi chi tiêu.

- Cơ cấu lại danh mục đầu tư: Hơn lúc nào hết, trong thời kỳ khủng hoảng, nền kinh tế suy thoái, các nhà đầu tư và tổ chức càng cần phải xem xét lại danh mục đầu tư, duy trì những khoản đầu tư mang lại hiệu quả cao, và cắt giảm một số khoản không cần thiết. Điều quan trọng là nhà đầu tư cần phải biết đâu là danh mục cần loại bỏ và đâu là danh mục nên giữ lại, để đầu tư sao cho hiệu quả và hợp lý, tránh ít nhất những thiệt hại có thể xảy ra. Thông thường, các nhà đầu tư sẽ chuyển đổi từ những danh mục đầu tư đã phát triển nóng như bất động sản, chứng khoán sang những khoản mục an toàn hơn là vàng, đôla, trái phiếu Chính phủ và tiết kiệm.

- Công bố các gói kích thích kinh tế phát triển: Đây là một phương thức không thể thiếu trong việc chống lại suy thoái kinh tế sau thời kỳ khủng hoảng. Việc thắt chặt chính sách tiền tệ và những hệ lụy do khủng hoảng hệ thống tài chính gây ra, đã ảnh hưởng trực tiếp tới mọi doanh nghiệp, người dân và đặc biệt là những người nghèo. Các phương thức tiếp cận nguồn vốn để duy trì hoạt động kinh doanh, sinh hoạt thường nhật của người dân với những mặt hàng thiết yếu ngày càng trở nên khó khăn hơn. Đây là lúc chính phủ cùng quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), ngân hàng thế giới (WB) hỗ trợ cho vay một lượng tiền lớn để phát triển đầu tư công, nâng cao đời sống an sinh xã hội của người dân đặc biệt là những người nghèo hoặc thất nghiệp, tạo điều kiện giúp các doanh nghiệp trước đây làm ăn hiệu quả, có thang điểm tín dụng an toàn và những doanh nghiệp có ảnh hướng lớn đến nền kinh tế-xã hội được vay vốn để vượt qua khó khăn. Điều khác biệt của việc bơm tiền sau khủng hoảng nhằm ngăn chặn đà suy thoái đó là tập trung tiền để kích thích xã hội làm ra của cải thực sự nhằm nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần của toàn dân thay vì bơm tiền để đầu cơ vào những giá trị ảo như đất đai, chứng khoán như trước đây.

- Cùng đoàn kết hợp tác chống khủng hoảng kinh tế: Hơn lúc nào hết, các quốc gia và tổ chức cần phải cùng phải chung tay để vượt qua khủng hoảng và suy thoái. Các tổ chức như G20, ASeam... đã họp bàn với nhau để cùng tìm ra phương hướng, dự báo và cách thức hỗ trợ lẫn nhau. Lý do chính khiến các nước phải cùng nhau thảo luận là vì quan hệ chính trị và ảnh hưởng qua lại ràng buộc giữa các nền kinh tế. Trong thời đại toàn cầu hóa, hệ thống tài chính, đầu tư, chứng khoán... của các nước liên kết với nhau khá chặt chẽ và sâu rộng. Một tập đoàn đa quốc gia bị sụp đổ tại một chi nhánh thì lập tức toàn bộ tập đoàn bị ảnh hưởng. Suy thoái kinh tế xảy ra tại một đất nước lớn mạnh như Mỹ khiến cho nhiều công ty mẹ ở đó bị sụp đổ, các công ty con ở những quốc gia khác cũng bị ảnh hưởng nghiệm trọng do vốn bị rút về nước. Toàn cầu hóa chính là lý do cấp thiết để các quốc gia cùng nhau hợp tác chống khủng hoảng.

(Trích cuốn sách "Giấc mơ trứng vàng" do Alpha Books ấn hành)

Thứ Bảy, 15 tháng 5, 2010

Các công ty kiểm toán độc lập: "Sóng ngầm" đe dọa chất lượng

'Các

Theo đánh giá, "thị trường" kiểm toán đang có một cuộc cạnh tranh không lành mạnh, thậm chí bôi xấu lẫn nhau giữa các công ty kiểm toán.

Ở Việt Nam đã xuất hiện "thị trường kiểm toán" bởi hàng loạt các công ty kiểm toán độc lập ra đời. Hiện tại, có 148 công ty kiểm toán đã đăng ký hành nghề với Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam.

Theo đánh giá chung , "thị trường" kiểm toán đang có một cuộc cạnh tranh không lành mạnh, thậm chí bôi xấu lẫn nhau giữa các công ty kiểm toán.

Nhiều công ty "khó bảo đảm chất lượng"

Theo Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA), đến nay có 148 công ty đã đăng ký hành nghề, bao gồm 137 công ty TNHH, 5 công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài là Ernts and Young, Price Waterhouse coopers, KPMG, G. T, Logos, 2 công ty có vốn đầu tư nước ngoài là E Jung, Mazars và 4 công ty hợp danh.

Ngoài ra, có 7 công ty chưa đăng ký hành nghề với VACPA, 3 công ty đang tiếp tục hoàn thiện hồ sơ đăng ký. Trong năm 2009, cả nước chỉ có 33 công ty và 416 kiểm toán viên đủ điều kiện kiểm toán công ty niêm yết được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận (trong khi số lượng công ty niêm yết hoặc cổ phần đại chúng rất lớn).

Đến thời điểm này, ngành kiểm toán có khoảng 8.000 người làm việc, trong đó hơn 1.100 người có chứng chỉ kiểm toán viên, 111 người vừa có chứng chỉ kiểm toán viên Việt Nam vừa có chứng chỉ kiểm toán viên nước ngoài. VACPA đánh giá, các công ty kiểm toán không chỉ thiếu trầm trọng nhân lực mà còn khó có thể "bảo đảm chất lượng dịch vụ theo yêu cầu".

Thống kê từ 131 công ty kiểm toán (có báo cáo VACPA) cho thấy, số lượng khách hàng năm 2009 của toàn ngành là 25.875 khách hàng. Đối tượng rất đa dạng, từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đến các công ty TNHH, cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã (HTX)... Doanh thu năm 2009 đạt 2.191 tỷ đồng, tăng 27,55% so với năm 2008. Trong đó, "gặt hái" từ dịch vụ kiểm toán chiếm tỷ trọng cao nhất - xấp xỉ 1.600 tỷ đồng (71%).

Áp lực đến từ đâu?

Hiện cả nước có khoảng 460 nghìn doanh nghiệp (thống kê của Bộ Kế hoạch - Đầu tư). Sự phát triển của nền kinh tế, đặc biệt là thị trường chứng khoán đặt ra yêu cầu ngày càng cao về tính minh bạch, công khai của các thông tin tài chính, tuy nhiên chất lượng dịch vụ kiểm toán có sự chênh lệch khá lớn giữa các công ty.

Một cuộc cạnh tranh ngấm ngầm giữa các công ty hình thành. Nhiều công ty nhỏ, mới thành lập nên khá yếu, thậm chí chưa đủ kiểm toán viên. Nhiều công ty kiểm toán do đông khách hàng, bị "ép" tiến độ nên đã không bảo đảm chất lượng cho "đầu ra". Theo nhiều doanh nghiệp, năng lực và đạo đức nghề nghiệp của nhiều kiểm toán viên cũng có vấn đề.

Có trường hợp kiểm toán viên... chưa nắm vững các quy định chuẩn mực chế độ kế toán hiện hành. Nhiều công ty, đặc biệt là số mới thành lập hoặc chỉ có 3 - 4 kiểm toán viên, thường quá chú trọng phát triển khách hàng mà không quan tâm chất lượng hồ sơ và báo cáo kiểm toán.

Để công ty kiểm toán có lãi, mỗi một kiểm toán viên được cấp chứng chỉ hành nghề phải mang về nguồn thu khoảng 200 triệu đồng một năm. Doanh số khoán trên mỗi kiểm toán viên là áp lực lớn. Nếu như không "được nhờ" thương hiệu của công ty - khách hàng tự tìm về - thì nhiều nhân viên kiểm toán phải tận dụng mọi mối quan hệ để tìm khách hàng. Vì thế, không ít trường hợp công ty nọ nói xấu công ty kia, thậm chí "vác" cả thư nặc danh lên Bộ Tài chính, VACPA...

Dấu hỏi quanh các "ông lớn"

Không chỉ cạnh tranh lẫn nhau, các công ty kiểm toán trong nước còn phải chịu "sức ép" rất lớn từ nhóm "đại gia". Chẳng hạn, năm 2009 chỉ các công ty Deloitte Việt Nam, Ernst & Young Việt Nam, Price Waterhouse Coopers, KPMG Việt Nam đã có doanh thu khoảng 1.196 tỷ đồng, chiếm 55% tổng doanh thu toàn ngành, với xấp xỉ 4.800 khách hàng.

Nếu doanh thu của các công ty trong nhóm này đều trên 250 tỷ đồng, thì những công ty tốp 5... trở xuống chưa đạt 90 tỷ đồng, thậm chí không hiếm công ty có doanh thu vài tỷ đồng. Tuy nhiên, thật bất ngờ, tại hội nghị giám đốc các công ty kiểm toán được tổ chức mới đây, VACPA cho biết ba công ty kiểm toán lớn nhất... lỗ 96 tỷ đồng.

Thông tin này đã khiến nhiều người ngạc nhiên. Đây là những công ty đã và đang kiểm toán cho nhiều tập đoàn, công ty lớn. Hàng loạt câu hỏi được đặt ra. Có phải những công ty này đã đưa ra mức phí quá thấp, không bù đắp nổi chi phí với mục đích cạnh tranh không lành mạnh nhằm bóp nghẹt các công ty kiểm toán trong nước?

Phải chăng các công ty này phải nộp phí cho công ty mẹ lớn hoặc phải trả lương nhân viên quá cao nhằm thu hút "chất xám" từ đối thủ… Theo một chuyên gia tài chính, trong mọi trường hợp, doanh nghiệp lỗ thì lấy gì bảo đảm khả năng thanh toán nếu xảy ra rủi ro (đối với kết quả kiểm toán)?

Tình trạng nêu trên của các công ty kiểm toán độc lập đang có nguy cơ dẫn đến một mặt bằng kết quả kiểm toán làng nhàng mà hệ quả là các con số kiểm toán có thể làm sai lệch, ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế. Bởi vậy, rất cần các cơ quan chức năng quan tâm có giải pháp để lành mạnh hóa "thị trường" kiểm toán hiện nay.

Theo Trung Nguyên
Hà Nội mới

Thứ Bảy, 8 tháng 5, 2010

Dự án hòn đảo hình cây cọ The Palm Jumeirah ở Dubai

1/Hòn đảo nhân tạo hình cây cọ ở ngoài khơi Dubai_ một xứng tầm kiến trúc

Các du khách tỷ phú có thể tận hưởng sự xa xỉ khi qua đêm trên tầng cao nhất của khách sạn Atlantis với giá 13.000 USD một đêm. Mỗi căn hộ trong khách sạn Atlantis trên đảo cây cọ của Dubai có 3 phòng ngủ, 3 phòng tắm, bàn ăn 18 chỗ được dát vàng.

Khu nghỉ mới Atlantis với chi phí xây dựng lên tới 800 triệu bảng sắp được khai trương trên đảo nhân tạo hình cây cọ Palm Jumeirah của Dubai.

Bất chấp e ngại từ các nhà phân tích tài chính, Dubai vẫn cho rằng khu nghỉ với tổng diện tích 45 ha là đầu tư hợp lý phòng khi nguồn dầu mỏ cạn dần. "Bạn không thể chọn bừa nơi để tiến hành dự án trị giá 1,5 tỷ USD", Alan Leibman, Chủ tịch của Kerzner International, tập đoàn quản lý khách sạn Atlantis, cho biết.

Khu nghỉ này có một bể sinh vật cảnh ngoài trời với 65.000 con cá, cá đuối và các sinh vật biển cùng một bể cá heo với trên 20 chú cá heo mũi to (giống cá heo phổ biến nhất) tới từ vùng đảo Solomon.
Theo Daily Mail, kế hoạch phát triển các hòn đảo nhân tạo của Dubai thường vấp phải chỉ trích của các nhà hoạt động môi trường. Họ cho rằng, việc xây dựng đảo nhân tạo sẽ làm hư hại các dải san hô và thay đổi dòng chảy.

Năm ngoái, các nhóm hoạt động môi trường và một số người dân của đảo Solomon đã phản đối quyết định bán cá heo.

Một số hình ảnh khách sạn Atlantis, ảnh trên Daily Mail, Telegraph:


Khách sạn Atlantis được xây dựng trên đảo nhân tạo ngoài khơi của Dubai.

Nằm trong phòng ngủ cũng có thể ngắm cá bơi lội.

Trong bể cá còn có cá đuối và nhiều sinh vật biển khác.

Tác phẩm của Dale Chihuly ngoài sảnh.

Hành lang trong khách sạn.

Nước chảy từ trên cao xuống trong phòng tắm.

Vừa tắm vừa ngắm cá lượn trong bể.


Trong khách sạn có khu công viên nước.

Những chú cá heo của đảo Solomon.

Hòn đảo hình cây cọ Palm Jumeirah.
Thế giới đang tiến xa bởi những điều kỳ diệu của khoa học công nghệ mới. Trong lĩnh vực kiến trúc - xây dựng nói riêng, sự kết hợp giữa khoa học, công nghệ và thẩm mỹ đang tạo nên nhiều công trình nổi tiếng, thậm chí trở thành biểu tượng cho cả quốc gia. Xin giới thiệu cùng bạn đọc 2 công trình lớn thuộc thể loại khách sạn 7 sao tại Arập.

Khách sạn Atlantis The Palm



Có thể nói công trình là một địa điểm thần tiên trên hòn đảo nhân tạo hình cây cọ, Palm Jumeirah tại Arập với tổng số tiền đầu tư xây dựng lên tới 15 tỉ USD.

Ngay từ giây phút đầu tiên bước chân đến nơi đây, du khách sẽ hoàn toàn bị thu hút bởi sự năng động, tổng hợp, hiện đại và đầy màu sắc. Khách sạn giống như một hệ thống resort xa hoa nhất, cung cấp đầy đủ các tiện ích vui chơi cho du khách được trải rộng trên 113 mẫu, có thể đáp ứng một lượng du khách khổng lồ với 1.539 phòng.
Atlantis nhấn mạnh đến đặc trưng biển tại khu vực này với những thiết kế độc nhất vô nhị như bể cá nhân tạo lớn nhất thế giới hiện nay với 650.000 cá các loại. Du khách cũng có thể vui chơi tại công viên nước cực lớn hay bơi cùng những chú cá heo trong hồ nuôi cá heo nhân tạo được thiết kế kèm theo.



Tất cả các phòng từ phòng đơn cho đến phòng suites đều mang phong cách Arập kết hợp với hơi hướng từ biển. Mỗi một căn phòng đều được thiêt kế để có tầm nhìn rộng bao quát cả vịnh Arập Còn nếu du khách chọn lựa ỎThe Lost Chambers SuitesỎ thì bạn sẽ được nhìn trực tiếp vào khu vịnh, bởi những căn phòng này được thiết kế nằm dưới nước. Những cửa sổ kính trong suốt từ trần đến đỉnh phòng sẽ mang đến tầm nhìn 360 độ về cuộc sống biển cả cũng như vịnh san hô nơi đây.

Atlantis nhấn mạnh đến đối tượng khách du lich gia đình hoặc theo đoàn, bởi vậy hệ thống vui chơi dành cho trẻ em và thanh thiếu niên tại đây vô cùng phong phú, với hàng loạt những CLB và khu vui chơi được phân cấp theo độ tuổi như CLB trẻ nhỏ Atlantis, CLB Rush, The Zone, Công viên nước cho trẻ em dưới 12 tuổi, khu vực vui chơi không gian, khu Kỹ thuật cao, khu Chơi - Nghệ thuật - Cắt dán, phòng máy tính, các CLB chơi đêm cho thanh niên 13 - 17 tuổi...






Khách sạn Burj Al Arab

Đây là khách sạn đắt nhất trên thế giới, từng là khách sạn cao nhất. Vì những thiết bị và hệ thống phục vụ trong khách sạn quá cao cấp, vượt xa khỏi tầm tiêu chuẩn khách sạn 5 sao, nên chỉ có thể liệt khách sạn này vào mức 7 sao.



Burj Al Arab được xây dựng trên hòn đảo nhân tạo cách bờ 280m, kết hợp hình thái kiến trúc và những kỹ thuật công trình tiên tiến nhất. Thời gian thi công khoảng 5 năm, trong đó có 2 năm rưỡi dùng để lấp biển tạo đảo nhân tạo. Khách sạn dùng hết 9.000 tấn sắt, đóng 250 cây sâu xuống 40m dưới đáy biển. Khách sạn do kiến trúc sư W.S.Atkins thiết kế, ngoại hình giống như một cánh buồm căng đầy gió, tổng cộng gồm 56 tầng, cao 321m.



Burj Al Arab là điểm nhấn mới tại Dubai, là tượng trưng cho sự xa hoa của Arập. Mỗi một bước tiến vào khách sạn là một bước tìm hiểu và hưởng thụ mạnh hơn về sự xa hoa của đất nước này. Trong một căn phòng đều có ít nhất 17 chiếc điện thoại các loại, luôn dùng cùng lúc 8 chiếc xe Lexus để đón tiếp từ sân bay đến khách sạn. Bạn cũng có thể yêu cầu đón tiếp bằng trực thăng lên thẳng.




Nội thất bên trong của khách sạn càng có thể nói là xa hoa đến cực điểm, bất kỳ chỗ nào bạn nhìn thấy đều được dát vàng hoặc là vàng khối thật hoàn toàn, ngay như cái nắm cửa, ống dẫn nước, ống thoát nước nhà vệ sinh hay ngay đến một tờ giấy vệ sinh Mặc dù đều được làm từ vàng nhưng phong cách hoàn toàn không dung tục mà lại thoát lên gu thẩm mỹ quý tộc tuyệt vời của người thiết kế.



Mỗi một căn phòng đều được trang hoàng theo phong cách hoàng cung. Tất cả 202 căn phòng đều là những phòng riêng biệt, 2 tầng cao, phòng nhỏ nhất có diện tích 170m, căn phòng Hoàng gia lớn nhất có diện tích 780m. Ngay khi bước vào phòng, sẽ có ngay một người quản gia giải thích cách thức sử dụng những kỹ thuật tiên tiến hiện đại nhất nơi đây.



Căn phòng Hoàng gia cao cấp nhất với vị trí tại tầng 25, trang hoàng hoa lệ như hoàng cung, tất cả đồ dùng được dát vàng, có cầu thang máy riêng, phòng chiếu phim riêng, giường ngủ có thể quay 360 độ, phòng tiếp khách kiểu Arập. Những căn phòng riêng biệt chỉ phần đầu tiên khiến du khách choáng ngợp. Nhà hàng Al - Mahara là nhà hàng dưới biển đầu tiên trên thế giới, dùng máy lặn để đưa tiếp đồ ăn, hành khách thông qua những máy lặn chuyên biệt để khám phá thế giới muôn vàn màu sắc dưới lòng đại dương. Nhà hàng được bao bọc bởi hệ thống kính trong suốt, khiến cho cả thời gian dùng bữa trở thành một thời gian thưởng thức cảnh biển hùng vĩ.



Nơi dây cũng có một nhà hàng khác mà bạn chỉ cần 33 giây để đi cầu thang máy đến độ cao 200m cách mặt đất, có thể tiếp đón 140 khách, chỉ phục vụ đồ ăn Ðịa Trung Hải, tầm nhìn bao quát toàn bộ cảnh quan thành phố. Mỗi một cây xanh được trồng tại đây giá thấp nhất là 3.000USD.

2/ Clip: Xem quá trình xây dựng hòn đảo hình cây cọ The Palm Jumeirah ở Dubai



3/Dubai : Giấc mơ tan vỡ

Hòn đảo nhân tạo Palm Jumeirah, niềm tự hào và biểu tượng cho tham vọng của Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất, nay trở thành dấu hiệu của sự suy tàn. Còn những khổ chủ đã lỡ mua nhà tại đây cũng đang khốn đốn và thất vọng.

Đặc phái viên của Libération tại Dubai trong một bài báo dài hai trang hôm nay đã tả lại thực trạng hòn đảo nhân tạo Palm Jumeirah, niềm tự hào và biểu tượng cho tham vọng của Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất, nay trở thành dấu hiệu của sự suy tàn.

Mọi thứ đều "made in China"

Ông Nejib Zbiri là một trong những cư dân đầu tiên dọn đến Palm Jumeirah, một hòn đảo nhân tạo nằm trong dự án ba hòn đảo mang hình cây cọ trong vịnh Persique. Một vila hai tầng lát đá cẩm thạch, trên diện tích đất gần 700m2, có hồ bơi riêng dù biển chỉ cách có 20m ; với cái giá tương đương 500 ngàn euro, quá rẻ vào thời điểm năm 2003. Nhưng ngay hôm đầu tiên đã có những ngạc nhiên không thú vị chút nào. Khi bật đèn phòng ngủ, thì đèn toa-lét lại sáng. Tất cả trang thiết bị trong nhà đều là hàng Trung Quốc, từ hệ thống điện, nước cho đến gạch lát nền nhà. Hầu hết những người mua nhà đều phải cho làm lại hệ thống điện, và chưa đến hai năm sau đã phải thay toàn bộ gạch lát hồ bơi. Thậm chí ban-công của một nhà hàng xóm ông Zbiri đã bị sập sau các trận mưa lớn mùa đông năm ngoái. Khi khiếu nại, thì lại được chỉ sang công ty xây dựng, mà công ty này đã bị phá sản, nên chủ nhân ngôi nhà đành phải bỏ tiền túi ra sửa chữa. Các vila nằm sát cạnh nhau vì tất cả những khoảng xanh giữa các ngôi nhà như trên ma-két lúc đầu đều bị dẹp bỏ để tiết kiệm. Các trung tâm thương mại cũng không được xây dựng như đã hứa, nên phải lái xe đi xa đến bảy cây số để mua sắm.

Điều an ủi duy nhất của ông Zbiri, một kỹ sư tin học Pháp gốc Ả rập, là hàng xóm toàn những người có địa vị. Một ông giám đốc địa ốc người Ả rập Xê út, một nhà quản lý người Liban, một doanh nhân Đức…Các ngôi nhà có người ở chỉ chiếm tỉ lệ có 10%, cho dù giá nhà đã được hạ xuống để thu hút giới trung lưu. Còn khách sạn Atlantis 1.500 phòng trên hòn đảo cũng phải hạ giá để có khách. Vào thời điểm khai trương khách sạn này, cuối năm 2008, pháo bông đã được bắn lên bầu trời suốt hơn hai tiếng đồng hồ, tiêu tốn 20 triệu đô la.

Tham vọng và thực tế

Sau khi bán ra những giấc mơ, nay Dubai phải đối diện với thực tại gay go của dịch vụ hậu mãi. Còn chủ nhân của các ngôi biệt thự trên hòn đảo nhân tạo Palm Jumeirah ngoài việc phải trả tiền cho các dịch vụ vệ sinh, dọn rác, bảo vệ…còn phải trả các loại phí tương đương cho chính quyền địa phương để bảo trì đường phố, phí trả cho cảnh sát mà họ chẳng biết để làm gì. Không một công ty nào chịu nhận bảo hiểm cho các ngôi nhà trên đảo, ngoài ra cư dân còn bị cấm trồng cây để tiết kiệm nước. Tệ hơn nữa, một công trình nghiên cứu vào cuối năm ngoái cho biết hòn đảo nhân tạo này đang bị chìm xuống nửa centimet mỗi năm. Tập đoàn địa ốc Nakheel, chủ đầu tư đã cải chính tin trên. Nhưng chính Nakheel cũng đang bị lún sâu trong nợ nần và các vụ kiện tụng.

Tập đoàn này dự kiến xây thêm hai hòn đảo nhân tạo hình cây cọ có quy mô lớn hơn cả Palm Jumeirah, nhưng một dự án vẫn đang trong tình trạng xây dựng, còn dự án kia sẽ chẳng bao giờ thành sự thực. Dự án The World, một chuỗi các hòn đảo nhân tạo khác cũng đang bị ngưng trệ, các đảo này không được bảo trì nên đang xuống cấp. Còn các dự án đầy tham vọng khác như Dubailand, công viên giải trí dự kiến lớn gấp 6 lần Disneyworld ; và Waterfront, một phức hợp nhà ở và khu giải trí bên bờ biển lớn hơn cả Hongkong, với các tòa nhà chọc trời cao nhất thế giới…Vào cao điểm của cơn sốt địa ốc, gần như mỗi tháng Nakheel lại đưa ra một siêu dự án. Bên cạnh đó còn có các tập đoàn khác nữa, nhưng giờ đây không ai biết các dự án này đã đi đến đâu, hay vẫn đang nằm trên giấy. Hồi đó, các khách du lịch đến Dubai thường được chào bán nhà đất với điều kiện dễ dàng, chỉ cần đặt cọc trước 5%; người mua được cấp visa cư trú thường xuyên. Một giấc mơ cho những người trung lưu ở Ấn Độ, Pakistan, Iran, muốn tìm một thiên đàng hạ giới trong trường hợp nước mình có lộn xộn.

Cho đến khi khủng hoảng nổ ra vào mùa thu năm 2008. Những người đã đặt cọc chỉ muốn lấy lại tiền chứ không cần được giảm giá. Nhưng tập đoàn Nakheel vốn quá lạc quan, đã cầm cố đất đai để vay những số tiền khổng lồ ngắn hạn, còn công ty xây dựng thay vì mua xi măng lại đi đầu cơ vào nguyên vật liệu…Nhìn chung, mọi người đều đang bị lún sâu vào một vũng lầy chưa có lối thoát, và giấc mơ đang tan vỡ…


Thứ Ba, 4 tháng 5, 2010

Đầu tư mặt bằng cho thuê, lỗ cơ hội !

“Có mặt bằng cho thuê là sống khoẻ”, những người đi thuê mặt bằng kinh doanh thường nói vậy. Nhưng với người “có của” thì việc đầu tư mặt bằng một vài ngàn cây vàng để cho thuê hàng tháng chưa chắc là cách đầu tư tốt nhất.


Đường Đồng Khởi, quận 1 là con đường có giá trị bất động sản, giá trị thuê mặt bằng kinh doanh cao nhất thành phố. Tuy nhiên, muốn đầu tư nhà ở đây để cho thuê sinh lợi thì vốn phải rất lớn. Ảnh: Lê Quang Nhật

Chị Ngọc Mỹ, ngụ ở quận 5 mua căn biệt thự trên đường Nguyễn Thị Diệu quận 3 với giá xấp xỉ 3.000 lượng vàng, bỏ thêm 500 lượng để xây mới, tính ra tổng cộng khoảng 91 tỉ đồng. Chị tìm được khách nước ngoài đồng ý thuê để mở dịch vụ làm đẹp với giá 20.000 USD/tháng (382 triệu đồng). Sau khi trừ thuế, mỗi năm chị thu về hơn 4 tỉ đồng. Tính ra, phải mất 20 năm, chị mới thu hồi vốn đầu tư.

20 năm mới hoà vốn là quá lâu

Các chuyên gia đều cho rằng, một dự án đầu tư kinh doanh mặt bằng cần phải có thời gian thu hồi vốn khoảng 20 năm.

Nhưng chị Ngọc Mỹ tỏ ra không hài lòng. Chị cho rằng, với số vốn kể trên, nếu đem gửi ngân hàng hoặc cho bạn bè mượn vốn làm ăn, thì một năm tiền lãi trên 10 tỉ đồng. Tính chi phí cơ hội, xem ra chị lỗ đến 6 tỉ đồng mỗi năm, còn nếu tính đường thu hồi vốn thì hơn 20 năm…

“20 năm là khoảng thời gian trung bình để có thể thu hồi vốn trong các hoạt động đầu tư về địa ốc, bất động sản. Thực tế các dự án thực hiện trên đất thuê như thuê đất xây nhà xưởng, xây chung cư, xây trung tâm thương mại… thường yêu cầu phải có thời gian cho thuê từ 40 – 50 năm trở lên do giá đất đã tăng nóng trong thời gian dài đẩy chi phí đầu tư tăng lên”, bà Trang, một nhà đầu tư bất động sản ở nhiều khu vực tại Việt Nam cho biết như vậy.

Bà Trang cho rằng, 20 năm là công thức chung để tính toán. Nhưng gần đây, khi vàng, chứng khoán, ngoại tệ… có thể đem lại khoản lợi bất ngờ. Và các nhà đầu tư bất động sản đã từng quen với kiểu mua đất dự án, xây chung cư, mua nhà nát sửa lại rồi bán… lãi gấp 2 – 3 lần trong thời gian ngắn thì đầu tư mặt bằng đến 20 năm mới thu vốn là đã để “tiền chết”.

Không dễ ăn

Trong khi đó, việc tăng giá cho thuê là rất khó khăn. Một nhà đầu tư đã bỏ khoảng 5.000 lượng vàng mua hai căn nhà mặt tiền cạnh nhau ở quận 3, hợp thành căn nhà có diện tích hơn 400m2.

Bà ra giá cho thuê mở nhà hàng, shop hay thẩm mỹ viện 30.000 USD/tháng. Tính ra, sẽ thu hồi vốn trong 19 năm. Nhiều khách đến hỏi thăm, xem xét rồi… rút lui vì họ cho rằng khó mà có mức doanh thu đủ bù chi phí tiền mặt bằng. Có khách chỉ chấp nhận thuê với giá 22.000 USD/tháng, tính ra, sẽ phải mất 26 năm để thu hồi vốn.

Cuối cùng, bà đành chấp nhận đưa chi phí thuê nhà như một phần vốn góp mở nhà hàng, phần thu của mặt bằng sẽ là 60% lợi nhuận hàng tháng. Bà nói: “Có thể lợi nhuận ban đầu sẽ rất thấp, thậm chí sau hai năm cũng khó đạt mức 22.000 USD/tháng. Nhưng bù lại, con gái tôi sẽ học được nghề kinh doanh trong nhà hàng này”.

Còn bà Trương, chủ của chín căn nhà đang cho thuê tại khu vực các quận 1, 3, 10, 5 và Tân Bình với tổng trị giá đầu tư hơn 15.000 lượng vàng cho rằng: “Cho thuê mặt bằng còn là giải pháp tạm thời của những người đầu tư địa ốc để bán, khi mà giá cả xuống thấp và thị trường mua bán đóng băng. Chính vì vậy, ít thấy ngôi nhà mặt tiền nào ở vị trí đẹp mà ký hợp đồng cho thuê dài hạn. Hầu hết chỉ cho thuê từng năm, lấy tiền cọc trước 3 – 6 tháng…”

DiaOcOnline.vn - Theo Sài Gòn Tiếp Thị

Thứ Hai, 7 tháng 12, 2009

Tiền đồng bắt đầu rẻ mạt !

Sự phục hồi theo hình chữ V tao nhã của Việt Nam có thể là một điều kinh khủng, hủy hoại con đường đi tới đại hội toàn quốc lần thứ 11 của Đảng Cộng sản vào đầu năm 2011.



Với ý niệm đó trong tâm trí, chính phủ từ lâu đã phủ nhận bất cứ ý định nào phá giá đồng nội tệ. Vào ngày 25 tháng Mười một, những lời phủ nhận đó của họ đã biến mất. Ngân hàng nhà nước đã hạ tỉ giá hối đoái chính thức giữa tiền đồng và đô la xuống khoảng 5,2%. Trong cú đánh tương tự như vậy, Việt Nam đã trở thành quốc gia đầu tiên ở châu Á tăng mức lãi suất kể từ khi cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu, nâng lãi suất cơ bản từ 7% lên 8% trong một nỗ lực nhằm làm chậm lại mức gia tăng lượng tiền cho vay và thu hút nhiều hơn tiền đồng gửi vào ngân hàng.

Qua mấy năm gần đây, nền kinh tế phơi lưng ra trước những cơn bão táp của chủ nghĩa tư bản toàn cầu đã đem đến cho nước Việt nam một loạt những vận may bất ngờ tuyệt vời, và cả những hỗn loạn đáng kể nữa. Trong nửa đầu năm 2008, khi hoạt động đầu cơ tích trữ và lạm phát đe dọa làm dấy lên khả năng không thể kiểm soát nổi, chính phủ đã buộc phải kiềm chế tình trạng dư thừa. Thế nhưng tự nó lại làm đảo ngược tình hình, trong khi suy thoái toàn cầu cũng tác động đến.

Khi chính phủ nước này theo sau nhiều quốc gia đi đầu khác trong việc cố gắng thoát ra khỏi tình trạng bất an – hào phóng với chương trình trợ cấp thông qua lãi suất trị giá 17 ngàn tỉ đồng (1 tỉ đô la) – thì họ lại bắt đầu tự tạo nên một loạt những vấn nạn mới.

Tiền gửi ngân hàng và bội chi ngân sách đã tăng cao, lượng dự trữ ngoại tệ co rút lại, và các kinh tế gia đã bắt đầu đặt nghi vấn về sự sáng suốt của một cuộc hồi phục dựa vào một chính phủ tiêu pha tốn kém . Các nhà kinh doanh tiền tệ bàn cãi rằng chính sách lưu thông tiền tệ của nước này có thể sẽ đem lại lạm phát, từng chạm mức cao nhất trong sáu tháng qua là 4,35%/ tháng trong tháng 11/2009.

Quan điểm của họ cũng được nhiều người Việt Nam bình thường chia sẻ, những người từng bị tổn thương vì cú lạm phát phi mã trong quá khứ, họ đã lao vào đổi những đồng tiền tiết kiệm được của mình sang đô la và vàng, thiên về cất giữ để đảm bảo giá trị, ở một đất nước mà chỉ có một phần mười dân số có tài khoản ngân hàng.

Các nhà đầu tư nước ngoài thuộc loại khó điều khiển đã rút tiền của mình ra và các doanh nghiệp nhà nước đã thận trọng tích trữ tiền mặt; họ cùng tạo nên một tình trạng khan hiếm đô la liên tục. Với quá ít đồng tiền mạnh quay trở lại trong lưu thông, trong ít tháng gần đây tiền đồng đã suy yếu rõ rệt ngoài thị trường chợ đen. Mối đe dọa về một cuộc khủng hoảng tiền tệ đã xuất hiện lờ mờ.

Từ những lý do đó khiến chính phủ đã phải thay đổi ý kiến. Sau khi giảm tỉ giá hối đoái và siết chặt việc quản lý ngoại tệ, họ đã tiếp tục thúc giục các tập đoàn nhà nước đổi các khoản vốn của mình từ đô la – được ước đoán trị giá 10,3 tỉ đô la – sang loại tiền đồng đang èo uột, nhằm hỗ trợ giá trị của đồng bạc này và giảm bớt tình trạng khan hiếm ngoại tệ mạnh.

Nhiều nhà đầu tư đã phải ngạc nhiên song hầu hết đã chào đón hành động dứt khoát đó, họ cho rằng nó sẽ củng cố thêm cho các trụ cột trong lĩnh vực xuất khẩu.

Hàng hóa Việt Nam rẻ hơn có thể là những tin tức xấu cho những nền kinh tế khác được điều khiển bởi xuất khẩu, với các loại nội tệ hướng tới giá trị đúng so với đồng đô la trong năm nay, trong khi các nhà đầu tư lo ngại về tình trạng kém phục hồi của Mỹ. Ví như các nhà sản xuất Thái Lan, đã phải kêu ca về tình trạng gian lận, mặc dù Bộ trưởng Tài chính Thái Lan khăng khăng rằng ảnh hưởng sẽ ở mức tối thiểu.

Đây là lần thứ ba giảm giá tiền đồng kể từ mùa hè năm 2008. Hy vọng là lần giảm giá này sẽ vạch ra một giới hạn cho việc trượt giá tiền đồng và đưa ra sự cam đoan bền vững hơn cho tất cả các nhà đầu tư, người nước ngoài và người Việt Nam.

Nếu chính phủ đặt chính sách tiền tệ của Việt Nam trên một cơ sở ổn định hơn cho cuộc hành trình dài lâu, thì họ phải tìm ra một con đường giúp các công dân của mình dứt bỏ thói quen ruồng rẫy đồng tiền nội tệ trong những thời điểm thị trường nhiễu loạn. Đây là nhiệm vụ không dễ dàng trong một nền kinh tế mà có tới 42% tổng dự trữ tiền mặt được cất trữ dưới dạng vàng hoặc đô la. Những ký ức về cuộc lạm phát tăng vọt vẫn còn mới, làm cho những người gửi tiền tiết kiệm phải miễn cưỡng khi giữ đồng bạc nội tệ của mình.


The Economist

Thứ Hai, 21 tháng 9, 2009

Chủ đề của bài viết

Kính gửi các bạn tham gia xây dựng Blog !
Để quản lý và thuận tiện cho việc tìm kiếm bài viết sau này , đề nghị các bạn khi gắn "nhãn" cho bài viết nên chọn lựa các nhãn sau :
_ "01.Lớp 6K9" : các bài viết có nội dung thông báo cho tập thể lớp
_ "02.Thành viên" : các bài viết về gia đình ,cá nhân của một thành viên trong lớp
Ngoài ra , các bài viết khác , tùy theo nội dung chuyển tải , các bạn có thể gắn nhãn cho phù hợp .
Ví dụ :
_ "03.Khoa học" : nội dung bài viết về các chủ đề khoa học , vũ trụ , khí hậu , thời tiết , thần bí
_ "04.Lịch sử" : nội dung bài viết về vấn đề lịch sử
_ "05.Kinh doanh" : nội dung bài viết về thương mại , quản lý kinh tế
_ "06.Tài chính -Kế toán" : nội dung bài viết về kế toán , tài chính , thuế , pháp luật
_ "07.Vi tính" : nội dung bài viết về các thủ thuật vi tính
_ "08.Tuần tin tức" : nội dung bài viết cập nhật tin tức và điểm tin theo tuần
_ "09.Giải trí" : nội dung bài viết về giải trí như : truyện , nhạc , thơ ca , văn học , game .v.v...
_ "10.Khác" : nội dung bài viết về vấn đề khác , không phù hợp với các nhãn nêu trên .
Xin các bạn lưu ý và thực hiện để Blog thật sự là phương tiện hữu ích truyền tải thông tin đến cho mọi thành viên trong lớp .
Xin chân thành cám ơn
Trân trọng .