Lặng xuôi năm tháng êm trôi
Con đò kể chuyện một thời rất xưa
Rằng người chèo chống đón đưa
Mặc cho bụi phấn giữa trưa rơi nhiều
Bay lên tựa những cánh diều
Khách ngày xưa đó ít nhiều lãng quên
Rời xa bến nước quên tên
Giờ sông vắng lặng buồn tênh tiếng cười
Giọt sương rơi mặn bên đời
Tóc thầy bạc trắng giữa trời chiều đông
Mắt thầy mòn mỏi xa trông
Cây bơ vơ đứng giữa dòng thời gian...
Ngày nhà giáo Việt Nam (hay ngày lễ Hiến chương nhà giáo Việt Nam) là một ngày kỷ niệm được tổ chức hằng năm vào ngày 20 tháng 11 tại Việt Nam. Đây là ngày lễ hội của ngành giáo dục và là ngày "tôn sư trọng đạo" nhằm mục đích tôn vinh những người hoạt động trong ngành này. Trong ngày này, các học sinh thường đến tặng hoa và biếu quà cho các thầy cô giáo. Ngành giáo dục cũng thường nhân dịp này đánh giá lại hoạt động giáo dục và lập phương hướng nâng cao chất lượng giáo dục.
Tháng 07 năm 1946, một tổ chức quốc tế các nhà giáo tiến bộ được thành lập ở Paris đã lấy tên là Liên hiệp quốc tế các công đoàn giáo dục (tiếng Pháp: Fédération Internationale Syndicale des Enseignants - FISE).
Nǎm 1949, tại một hội nghị ở Warszawa (thủ đô của Ba Lan), Liên hiệp quốc tế các công đoàn giáo dục đã ra bản "Hiến chương các nhà giáo" gồm 15 chương với nội dung chủ yếu là đấu tranh chống nền giáo dục tư sản, phong kiến, xây dựng nền giáo dục trong đó bảo vệ những quyền lợi của nghề dạy học và nhà giáo, đề cao trách nhiệm và vị trí của nghề dạy học và nhà giáo.
Công đoàn giáo dục Việt Nam, là thành viên của FISE từ năm 1953 (hội nghị có 57 nước tham dự), đã quyết định trong cuộc họp của FISE từ 26 đến 30 tháng 8 năm 1957 tại Warszawa, lấy ngày 20 tháng 11 năm 1958 là ngày "Quốc tế hiến chương các nhà giáo". Ngày này lần đầu tiên được tổ chức trên toàn miền Bắc Việt Nam.
Khi Việt Nam thống nhất, ngày này đã trở thành ngày truyền thống của ngành giáo dục Việt Nam. Vào ngày 28 tháng 9 năm 1982, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành quyết định số 167-HĐBT thiết lập ngày 20 tháng 11 hằng năm là ngày lễ mang tên "Ngày nhà giáo Việt Nam".
Mời các bạn thưởng thức một số clip ca nhạc về tuổi học trò .
Mời nghe một số đoản văn hay về nhớ ơn thầy cô giáo .
Xuân Diệu tên thật là Ngô Xuân Diệu, sinh ngày 2 tháng 2, 1916 tại Gò Bồi, xã Tùng Giản, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Cha là ông Ngô Xuân Thọ (giáo viên), người làng Trảo Nha, Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh và mẹ là bà Nguyễn Thị Hiệp.
Xuân Diệu lớn lên ở Qui Nhơn. Sau khi tốt nghiệp tú tài, ông đi dạy học tư và làm viên chức ở Mĩ Tho (nay là Tiền Giang), sau đó ra Hà Nội sống bằng nghề viết văn, là thành viên của Tự Lực Văn Đoàn (1938-1940). Ông tốt nghiệp cử nhân Luật 1943 và làm tham tá thương chánh ở Mỹ Tho một thời gian trước khi chuyển về ở Hà Nội.
Bên cạnh sáng tác thơ, ông còn tham gia viết báo cho các tờ Ngày Nay và Tiên Phong. Ông là một trong những người sáng lập Đoàn báo chí Việt Nam, nay là Hội Nhà báo Việt Nam.
Trong sự nghiệp sáng tác thơ văn của mình, Xuân Diệu được biết đến như là một nhà thơ lãng mạn trữ tình, “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”, “ông hoàng của thơ tình”.
Xuân Diệu là thành viên của Tự Lực Văn Đoàn và cũng đã là một trong những chủ soái của phong trào “Thơ Mới”. Tác phẩm tiêu biểu của ông ở giai đoạn này: Thơ Thơ (1938), Gửi Hương Cho Gió (1945), truyện ngắn Phấn Thông Vàng (1939).
Năm 1944, Xuân Diệu tham gia phong trào Việt Minh. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông hoạt động trong Hội văn hóa cứu quốc, làm thư ký tạp chí Tiền phong của Hội. Sau đó ông công tác trong Hội văn nghệ Việt Nam, làm thư ký tòa soạn tạp chí Văn nghệ ở Việt Bắc.
Từ đó, Xuân Diệu trở thành một trong những nhà thơ hàng đầu ca ngợi cách mạng, một “dòng thơ công dân”. Bút pháp của ông chuyển biến phong phú về giọng vẻ: có giọng trầm hùng, tráng ca, có giọng chính luận, giọng thơ tự sự trữ tình. Tiêu biểu là: Ngọn Quốc Kỳ (1945), Một Khối Hồng (1964), Thanh Ca (1982), Tuyển Tập Xuân Diệu (1983).
Là cây đại thụ của nền thi ca hiện đại Việt Nam, Xuân Diệu đã để lại khoảng 450 bài thơ (một số lớn nằm trong di cảo chưa công bố), một số truyện ngắn, và nhiều bút ký, tiểu luận, phê bình văn học.
Xuân Diệu từng là đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa I. Ông còn được bầu là Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm nghệ thuật nước Cộng hòa dân chủ Đức năm 1983.Ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học – Nghệ thuật (1996).Ông mất ngày 18 tháng 12, 1985
Bình luận về thơ Xuân Diệu
Có lẽ chẳng ai làm thơ tình ướt át, lãng mạn và... điệu đà ẻo lả như nhà thơ này. Nhiều thế hệ học trò, cho đến văn thi nhân hậu bối, đă mê thơ ông, thuộc thơ ông. Có người còn mượn thơ ông để tỏ tình nữa; vì bài thơ nào của ông cũng nói đến tình yêu mà lại là thứ tình yêu rất lạc quan, lúc nào cũng thành công, hạnh phúc, hả hê, hài lòng... thứ tình yêu của tuổi mới lớn, của người mới biết yêu lần đầu, tò mò, bồn chồn, hăm hở tìm chọn những phương thức tỏ bày.
Cho dù trong định nghĩa chữ Yêu, ông nói là "chết ở trong lòng một ít" nhưng cũng chẳng thấy hơi thơ ông nhuốm màu khổ đau chi cả. Ông còn sung sướng được chết một ít trong lòng nữa là đàng khác. Ðọc thơ ông, tôi không thấy buồn (dĩ nhiên không phải đọc thơ thì phải buồn), chỉ thấy vui là vui chúng mình vui nhiều. Giống như đọc truyện kể về những cặp trai gái yêu nhau.
Càng về sau, thời hậu chiến, nghĩa là sau cái thời thơ ông rộ nở và chiếm lĩnh đài vinh quang của thi đàn Việt-nam, cho đến thời kỳ đất nước chia đôi, rồi tái thống nhất dưới ngọn cờ đỏ, thơ ông cứ thế mà nhạt dần theo năm tháng. Ông không còn nói được cái tình yêu đôi lứa chung cho mọi người mà chỉ nói cho thân phận, hoàn cảnh riêng của mình; thỉnh thoảng có nói về cái tình chung nào thì đó lại là cái tình yêu đối với cái mình không yêu mà phải giả đò yêu, hoặc yêu lầm mà cứ tiếp tục ca tụng cái yêu lầm lỡ ấy...
Dù sao, có một thời thơ ông đă mơn trớn dựng xây bao cuộc tình, khích lệ yêu với thương, gỡ rối tơ lòng (hàm thụ) cho bao tâm hồn non trẻ trước ngưỡng cửa cuộc đời. Và lác đác những đoạn thơ của ông đă từng được chép một cách trân trọng trên giấy tập học trò, và chen vào những lá thư tình vụng dại, trích dẫn nơi những bài luận văn...
Làm sao cắt nghĩa được tình yêu! Có nghĩa gì đâu một buổi chiều Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt Bằng mây nhẹ nhẹ, gió hiu hiu... (Vì sao)
Dù không cắt nghĩa được tình yêu lúc ấy, nhưng đến một lúc dày dạn kinh nghiệm hơn, ông đã cho lớp người sau một định nghĩa về tình yêu, và định nghĩa này dường như được mặc nhiên công nhận như là định nghĩa phổ quát đối với nhiều tầng lớp đang yêu và đã yêu. Ðịnh nghĩa đó nằm trong bài thơ Yêu của ông. Có thể nhiều người sẽ không thuộc hết bài, nhưng ít ra cũng thuộc câu đầu, câu chót, và cứ lấy đó làm thần phù khi bàn nói về chữ Yêu:
Yêu là chết ở trong lòng một ít Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu. Cho rất nhiều song nhận chẳng bao nhiêu Người ta phụ, hoặc thờ ơ, chẳng biết. Phút gần gũi cũng như giờ chia biệt Tưởng trăng tròn, hoa tạ, với hồn tiêu Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu! - Yêu, là chết ở trong lòng một ít. Họ lạc lối giữa u sầu mù mịt, Những người si theo dõi dấu chân yêu Và cảnh đời là sa mạc cô liêu Và tình ái là sợi dây vấn vít Yêu, là chết ở trong lòng một ít. (Yêu)
Chết trong lòng một ít là thứ tình yêu xa hoa, thứ tình yêu của kẻ thắng thế, của những kẻ có thể phụ bạc người yêu bất cứ lúc nào. Yêu mà chỉ chết trong lòng một ít thì chẳng lấy gì tha thiết lắm. Trên thực tế thì dù được, dù mất, một tình yêu sâu đậm thế nào cũng làm chết cả lòng chứ không chỉ chết một ít. Yêu hời yêu hợt mới chết một ít. Yêu đắm yêu đuối thì chết cả một đời. Cho nên, cái tình yêu chết một ít đó, có vẻ không thật. Cả những mối tình sóng bước dưới trăng, hồn lâng lâng, nhè nhẹ, lặng lẽ bước trong thơ... cũng có vẻ yểu điệu làm dáng, không thật. Chỉ có cái tình thật nhất, đẹp nhất, trung thực nhất mà Xuân Diệu lột tả được một cách xuất thần, đó là mối tình vu vơ tuyệt vọng của người kỹ nữ. Ðọc bài này, người ta sẽ cám cảnh thương cho những duyên phận bẽ bàng, thương đau; mà cũng cám ơn ngọn bút tài hoa của thi nhân đã nói giùm tâm cảnh, hoàn cảnh xót xa của đời những người con gái ăn sương, hương sắc tàn phai theo năm tháng... Mỗi ngày mỗi đêm, tuổi xuân rơi rụng dần mà không tìm thấy chút hy vọng nào cho một hạnh phúc nhỏ nhoi; tìm quên trong cảm giác hầu hạ phục tùng những tấm chồng tạm bợ cũng không sao khỏa lấp đuợc nỗi cô đơn truyền kiếp và cái định mệnh khắt nghiệt đã đóng nặng dấu ấn vào tim. Họ bám víu, bám víu... nhưng không giữ đuợc gì. Ôm ấp từng khách lạ để tìm hơi ấm hạnh phúc hão huyền. Tình yêu là đâu? Tình yêu là gì? Không chết đi một ít mà chết ở tận cùng con tim. Con tim cũng đã mất đi hình dạng của nó. Sống vật vờ như thế với từng đêm mộng mị chiêm bao. Mỗi sớm mai thức dậy, nhìn thấy sông trôi, người chồng một đêm cũng trôi, cuộc tình tạm bợ cũng trôi đi trong đôi mắt run mờ. Ðây, bài Lời Kỹ Nữ của Xuân Diệu:
Khách ngồi lại cùng em trong chốc nữa Vội vàng chi, trăng sáng quá, khách ơi! Ðêm nay rằm: yến tiệc sáng trên trời Khách không ở, lòng em cô độc quá. Khách ngồi lại cùng em, đây gối lả Tay em đây mời khách ngả đầu say Ðây rượu nồng. Và hồn của em đây Em cung kính đặt dưới chân hoàng tử. Chớ đạp hồn em! Trăng từ viễn xứ Ði khoan thai lên ngự đỉnh trời tròn Gió theo trăng từ biển thổi qua non; Buồn theo gió lan xa từng thoáng rợn Lòng kỹ nữ cũng sầu như biển lớn. Chớ để riêng em phải gặp lòng em; Tay ái ân du khách hãy làm rèm Tóc xanh tốt em xin nguyền dệt võng Ðẩy hộ hồn em triền miên trên sóng Trôi phiêu lưu không vọng bến hay gành; Vì mình em không được quấn chân anh Tóc không phải những dây tình vướng víu Em sợ lắm. Giá băng tràn mọi nẻo Trời đầy trăng lạnh lẽo suốt xương da Người giai nhân: bến đợi dưới cây già Tình du khách: thuyền qua không buộc chặt. Lời kỹ nữ đă vỡ vì nước mắt Cuộc yêu đương gay gắt vị làng chơi Người viễn du lòng bận nhớ xa khơi Gỡ tay vướng để theo lời gió nước. Xao xác tiếng gà. Trăng ngà lạnh buốt Mắt run mờ, kỹ nữ thấy sông trôi Du khách đi - Du khách đă đi rồi. (Lời Kỹ Nữ)
*
Dầu sao, vào những lúc tâm hồn thơ thới lâng lâng bởi một duyên tình nào đó, cũng nên đọc vài bài thơ tình của Xuân Diệu, có thể sẽ được bồi thêm một ít phấn chấn hay nên thơ nào chăng? Hoặc ít ra cũng gợi nhớ một dĩ vãng mộng mơ nào đó mà trong đời ai cũng một lần kinh qua...
Nguyên Ðán
Xuân của đất trời nay mới đến Trong tôi xuân đến đã lâu rồi; Từ lúc yêu nhau, hoa nở mãi Trong vườn thơm ngát của hồn tôi.
Chiều
Hôm nay, trời nhẹ lên cao, Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn... Lá hồng rơi lặng ngõ thuôn, Sương trình rơi kín từ nguồn yêu thương. Phất phơ hồn của bông hường, Trong hơi phiêu bạt còn vương máu hồng. Nghe chừng gió nhớ qua sông, E bên lau lách thuyền không vắng bờ. Không gian như có dây tơ, Bước đi sẽ đứt, động hờ sẽ tiêu. Êm êm chiều ngẩn ngơ chiều, Lòng không sao cả, hiu hiu khẽ buồn...
Tương Tư Chiều
Bữa nay lạnh, mặt trời đi ngủ sớm Anh nhớ em, em hỡi! anh nhớ em Không gì buồn bằng những buổi chiều êm Mà ánh sáng đều hòa cùng bóng tối. Gió lướt thướt kéo mình qua cỏ rối Vài miếng đêm u uất lẩn trong cành Mây theo chim về dãy núi xa xanh Từng đoàn lớp nhịp nhàng và lặng lẽ. Không gian xám tưởng sắp tan thành lệ.
Thôi hết rồi! còn chi nữa đâu em! Thôi hết rồi, gió gác với trăng thềm, Với sương lá rụng trên đầu gần gũi, Thôi đã hết hờn ghen và giận dỗi, (Ðược giận hờn nhau, sung sướng bao nhiêu!)
Anh một mình, nghe tất cả buổi chiều Vào chậm chậm ở trong hồn hiu quạnh. Anh nhớ tiếng. Anh nhớ hình. Anh nhớ ảnh. Anh nhớ em, anh nhớ lắm! Em ơi! Anh nhớ anh của ngày tháng xa khơi Nhớ đôi môi đang cười ở phương trời Nhớ đôi mắt đang nhìn anh đăm đắm.
Hoa Nở Ðể Mà Tàn
Hoa nở để mà tàn Trăng tròn để mà khuyết Bèo hợp để chia tan Người gần để ly biệt. Hoa thu không nắng cũng phai màu Trên mặt người kia in nét đau.
Tả cảnh tả người cỡ như bài này thì tuyệt:
Thu
Nõn nà sương ngọc quanh thềm dậu Nắng nhỏ bâng khuâng chiều lỡ thì. Hư vô bóng khói trên đầu hạnh; Cành biếc run run chân ý nhi.
Gió thầm, mây lặng, dáng thu xa Mới tạnh mưa trưa, chiều đã tà Buồn ở sông xanh nghe đã lại Mơ hồ trong một tiếng chim qua.
Bên cửa ngừng kim thêu bức gấm Hây hây thục nữ mắt như thuyền. Gió thu hoa cúc vàng lưng giậu Sắc mạnh huy hoàng áo trạng nguyên.
Và bài sau đây, dù sáng tác thời tiền chiến, để nói cái bẽ bàng của một đời hương sắc/tài hoa (của giai nhân? hay nghệ sĩ?) khi trao gửi thân phận/tài năng của mình không đúng chỗ, thì chừng mười mấy năm sau đó, lại thấy có vẻ như ứng vào hoàn cảnh chung của những nghệ sĩ, những văn công, không thể đóng góp tài năng của mình cho văn học nghệ thuật nữa, mà phải dùng tài năng của mình để tô son thếp hồng cho một bộ máy. Ðọc bài này để tiếc thương cho những nghệ sĩ tài hoa một thời:
Gửi Hương Cho Gió
Biết bao hoa đẹp trong rừng thẳm Ðem gửi hương cho gió phụ phàng! Mất một đời thơm trong kẽ núi Không người du tử đến nhằm hang!
Hoa ngỡ đem hương gửi gió kiều, Là truyền tin thắm gọi tình yêu. Song le hoa đợi càng thêm tủi, Gió mặc hồn hương nhạt với chiều.
Tản mác phương ngàn lạc gió câm Dưới rừng hương đẹp chẳng tri âm. Trên rừng hoa đẹp rơi trên đá, Lặng lẽ hoàng hôn phủ bước thầm.
Tình yêu muôn thuở vẫn là hương Biết mấy lòng thơm mở giữa đường Ðã mất tình yêu trong gió rủi Không người thấu rõ đến nguồn thương!
Thiên hạ vô tình nhận ước mơ Nhận rồi không hiểu mộng và thơ... Người si muôn kiếp là hoa núi Uống nhụy lòng tươi tặng khách hờ.
Có nhiều người bảo rằng Việt Nam là một dân tộc lãng mạn. Cứ đọc ca dao của chúng ta để biết ra điều đó.
Đêm qua ra đứng bờ ao Trông cá, cá lặn, trông sao, sao mờ
Và hãy đọc Kiều, Chinh Phụ Ngâm, Cung Oán Ngâm Khúc, để hiểu vì sao chúng ta không có anh hùng ca, chỉ có tình ca.
Áo chàng đỏ tựa dáng pha Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in
Chiến tranh lan rộng và hình ảnh người lính đẹp như thế đó. Và cũng lãng mạn vô cùng trong giây phút chia tay dù có đau lòng xé ruột.
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy Thấy xanh xanh những mấy hàng dâu Hàng dâu xanh ngắt một màu Tình chàng ý thiếp ai sầu hơn ai
Buồn và đẹp bởi có lẽ ai cũng hiểu rằng, ở nơi đâu tình ca biến mất, ở đó con người nhìn nhau không ra người nữa.
Tình ca dạy chúng ta cách yêu nhau và cả cách xa nhau nữa…
Nhạc Tiền chiến có thể coi là cái tên chung cho tất cả nhạc Việt Nam được viết trước năm 1954. Đó là thời kỳ phôi thai nhưng cũng mau chóng trở thành thời kỳ phồn thịnh của nền tân nhạc Việt Nam. Các tác giả và tác phẩm xuất hiện vào thời đó, đều tồn tại cho tới hiện nay, và chắc chắn sẽ tồn tại lâu dài nữa, vì như chúng ta đã thấy, giá trị đã được xác định qua nhiều thế hệ, qua nhiều thử thách, qua sự thăng trầm của lịch sử.
Các thế hệ trẻ so với tuổi các tác phẩm, đã có lúc tỏ ra không thích nhạc tiền chiến vì họ cho rằng nhịp điệu chậm quá. Nhưng tới một cái tuổi nào đó họ lại yêu trở lại.
Hiện tượng này vẫn còn tiếp diễn.
Dĩ nhiên mỗi thời đại, người ta sống khác nhau, suy nghĩ khác nhau. Nhưng trở lại ngọn nguồn người ta dễ dàng gặp lại nhau.
Âm nhạc là một ngọn nguồn kề cận nhất. Tình yêu là ngọn nguồn gần gũi nhất. Cũng không thể tách rời tình yêu ra khỏi quê hương được. Vì tình yêu cũng là tình hoài hương thu nhỏ.
Đoàn Chuẩn tuy được xếp chung với lớp các nhạc sĩ tiền chiến, nhưng ông xuất hiện sau những Lê Thương, Dương Thiệu Tước, Văn Cao, Phạm Duy. Các ca khúc mượt mà của ông, có một khí hậu rất Hà Nội, tung ra đời là được yêu, được hát ngay. Có thể nói Đoàn Chuẩn không viết gì khác ngoài tình ca. Tình ca của Đoàn Chuẩn chất chứa tất cả cái ngọt ngào say đắm của một người tình.
Một chiếc lá rơi, một cánh hoa rụng, một xác pháo hồng, đều phảng phất hình bóng của tình.
Nhớ tới mùa thu năm xưa gửi nhau phong thư ngào ngạt hương nét bút đa tình lả lơi nhớ phút ngập ngừng lòng giấy viết rằng chờ đến kiếp nào tình đầu trong gió mùa người yêu ơi
Vẫn biết chỉ ở trong một cái tuổi nào đó người ta mới có thể yêu như thế. Nhưng vì nó được ghi lại trong nhạc, chụp lại trong thơ, nên nó đã trở thành nỗi ám ảnh, nếu người ta không có được một lần trong đời, hình như người ta đã đánh mất tuổi trẻ mà không được gì cả.
Tình yêu là một thứ kho tàng quý báu, nếu người ta không kịp khám phá lúc còn trẻ, người ta sẽ nghèo khó khi già đấy!
Dù tình yêu trong nhạc ĐC chỉ là thứ tình người ta đánh mất chứ không giữ lại được. Nhưng mất là mất người yêu thôi, tình yêu vẫn còn. Và tình yêu vẫn còn nên người yêu cũng không thể mất.
Gửi gió cho mây ngàn bay Gửi bướm muôn màu về hoa Gửi thêm ánh trăng màu xanh lá thư Về đây với thu trần gian
Một trong những cái đáng quý nhất của nghệ thuật là nó có thể chia sẻ hạnh phúc cho mọi người, dù nguyên cớ của nó có khi chỉ do một người mà được tạo ra.
Cái thích thú khi nghe nhạc Đoàn Chuẩn - nói riêng - nghe tình ca Việt Nam nói chung là người ta cảm thấy hạnh phúc. Cũng phải có một thuở yên bình nào đó, trong một hoàn cảnh nào đó, người ta mới yêu như thế được.
Chúng ta phải tin một điều, dù gương mặt tình yêu ngày nay có khác xưa, nhưng tình không bao giờ làm mỏng thêm tình mà chỉ làm dày thêm.
Xin cảm ơn những người nghệ sĩ đã cho chúng ta những phút giây hạnh phúc…
Tại Việt Nam, từ đầu năm 2010, ngay vào giữa mùa lễ hội, nhiều tiếng nói bắt đầu cất lên đề nghị nhà nước cần sớm đưa ra các quy định pháp luật mới để ngăn cấm việc đốt đồ mã, một trào lưu ngày càng trở nên phổ biến.
Cảnh đốt đồ mã (DR)
Hành động này được nhiều người coi là để lại nhiều hậu quả tiêu cực, như gây tốn kém, ảnh hưởng đến an toàn và trật tự trong xã hội, đặc biệt là tại các địa điểm tín ngưỡng.
Trên thực tế, cuối năm 2006, một nghị định của chính phủ, trong đó có quy định cấm đốt vàng mã tại các nơi di tích trong thời gian lễ hội, đã được ban hành. Tuy nhiên, bất chấp việc cấm đoán về mặt nguyên tắc, trên thực tế, đồ mã ngày càng phát triển, thậm chí còn trở thành một mặt hàng sản xuất kinh doanh phổ biến, và là nguồn thu nhập của không ít người, đặc biệt tại các tỉnh phía bắc.
Trước áp lực của những người phản đối mạnh các tệ nạn gắn liền với việc đốt mã, Bộ Văn hóa – Thể Thao – Du lịch đã chuẩn bị ra một thông tư mới để điều chỉnh việc đốt mã tại các nơi di tích trong dịp lễ hội. Dự thảo thông tư đã nhận được rất nhiều ý kiến đa chiều.
Đầu tháng này, một cuộc trao đổi, do Trung tâm Nghiên cứu và Bảo tồn văn hóa Việt Nam tổ chức, giữa các ông bà đồng, các thủ nhang và các nhà quản lý và nhà nghiên cứu đã được tiến hành. Một trong những nội dung của cuộc trao đổi này là tìm cách hạn chế các tiêu cực trong « tín ngưỡng truyền thống », cụ thể là trong việc đốt mã.
Trong khi thông tư về điều chỉnh việc đốt mã nơi lễ hội vẫn đang còn được cơ quan chuyên môn của Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch soạn thảo, thì ngay trong tuần qua, một nghị định của chính phủ, ghi ngày 12/7/2010, đã được ban hành, qui định rõ « phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đến 1 triệu đồng đối với việc đốt đồ mã tại nơi tổ chức lễ hội, di tích lịch sử-văn hóa, nơi công cộng khác ». Phần liên quan đến đồ mã trong nghị định kể trên, về mặt nội dung gần như giống hoàn toàn với nghị định năm 2006 cũng do chính phủ ban hành.
Trên thực tế, tại Việt Nam hiện nay, nhiều người đang có xu hướng đi tìm một thỏa hiệp hay một nguyên tắc mang tính công bằng trong lĩnh vực phức tạp này. Để rộng đường công luận và tham gia vào cuộc trao đổi xung quanh vấn đề này, ban Việt ngữ RFI phỏng vấn giáo sư Trần Lâm Biền, nhà nghiên cứu về văn hóa « tín ngưỡng tôn giáo truyền thống », đồng thời là chuyên viên Cục Di sản Văn hóa, Bộ Văn hóa – Thể Thao – Du lịch.
Nguyễn Tất Nhiên, tên thật là Nguyễn Hoàng Hải. Sinh ngày 30 tháng 5 năm 1952 tại quận Đức Tu, tỉnh Biên Hòa và mất ngày 3 tháng 8 năm 1992 tại California.
Nguyễn Tất Nhiên theo học trường trung học Ngô Quyền từ năm 1963 cho tới năm 1970. Lúc mới vừa lên trung học đệ nhất cấp, Nguyễn Tất Nhiên đã làm thơ. Theo lời những người bạn cùng trường lúc đó, thơ của Nguyễn Tất Nhiên đã rất hay từ nhỏ. Lúc đó Nguyễn Tất Nhiên thành lập thi văn đoàn với bạn học là Đinh Thiên Phương, tên thật là Đinh Thiên Thọ. Cả hai thi sĩ học trò nầy cùng chung nhau xuất bản tập thơ Nàng thơ trong mắt năm 1966, khi đó Nguyễn Tất Nhiên được 14 tuổi. Trong tập thơ nầy Nguyễn Tất Nhiên lấy bút hiệu là Hoài Thi Yên Thi.
Tâm hồn nghệ sĩ của Nguyễn Tất Nhiên đã phát hiện trong người anh lúc ông còn rất trẻ. Đầu óc của ông được miêu tả lúc nào cũng như mơ mộng suy nghĩ đâu đâu, không tập trung ngay cả khi đang học. Bạn bè đùa thời gian này gọi ông là Hải Ngáo hay Hải Khùng.
Mối tình vô vọng với cô Duyên, nỗi đam mê, niềm đau khổ làm người, thể hiện qua những bài thơ của anh đã tạo nên phong các thơ của ông.
Sự nghiệp của Nguyễn Tất Nhiên thời gian đầu không mấy thành công: thơ ông in ronéo tặng không cho các nữ sinh đều bị quăng vào thùng rác. Những tập thơ gửi bán trong các tiệm sách đầu chợ Biên Hòa để đến giấy đổi màu vàng vẩn không bán được. Cho đến khi thơ ông được một số thầy giáo gửi đăng báo Sáng tạo của Mai Thảo, rồi Phạm Duy, Nguyễn Đức Quang thấy đó mà phổ nhạc thì mới bắt đầu nổi tiếng.
Vào khoảng năm 1972 hoặc 1973, Nguyễn Tất Nhiên nhận được giấy gọi nhập ngũ vào trường Võ bị Thủ Đức. Tuy nhiên mới vào Trung Tâm 3 Quang Trung, ông đã được cho thôi về vì lý do tâm thần bất ổn. Sau năm 1975, Nguyễn Tất Nhiên sống ở trong nước vài năm, sau đó sang đinh cư sang Pháp, rồi cuối cùng sang Mỹ sống ở Quận Cam.
Sau ông lấy vợ có tên là Minh Thủy, có 2 đứa con trai.
Ngày 3 tháng 8 năm 1992, người ta thấy ông nằm chết trong một xe hơi cũ, đậu dưới bóng cây trong sân chùa tại California.
Một bình luận về thơ Nguyễn Tất Nhiên
Anh nổi tiếng rất sớm. Vì thơ anh đi sớm hơn bước chân còn ngại ngùng bỡ ngỡ của thế hệ trẻ thời ấy trước sự tràn ngập của văn hóa phương Tây, qua hình ảnh người lính viễn chinh Mỹ, và qua phong trào hiện sinh mô phỏng trễ tràng trên đất nước đói nghèo, chiến tranh. Anh mạnh dạn nói được tiếng nói của tình yêu tuổi trẻ với sân trường, kỳ thi, chiến tranh, mất mát, hoài vọng, tuyệt vọng...
Chẳng phải sớm gì trong thể loại thơ, mà sớm trong phong cách biểu hiện. Anh dùng thứ ngôn ngữ của thời đại, rất hiện thực, không đẽo gọt; vậy mà thứ ngôn ngữ ấy bỗng nhiên mới, lạ, và được đón nhận nồng nhiệt. Bắt được giọng thơ tươi rói và đầy sức thu hút của anh, một nhạc sĩ tài danh phổ ngay thơ của anh thành nhạc, làm rung động bao trái tim cuồng nhiệt yêu đương thời chiến loạn. Vậy rồi thơ anh cất lên thành cơn sóng lớn, vượt bờ. Không ai mà chẳng biết thơ anh, không ai mà không hát nhạc phổ thơ của anh.
Hãy đọc một số bài thơ nổi tiếng được phổ nhạc mà ai cũng biết; và nên nhớ rằng lúc ấy, Nguyễn Tất Nhiên chỉ mới xấp xỉ ở tuổi hai mươi, để thấy cái tài hoa dị thường của anh:
Khúc Buồn Tình 1.
Người từ trăm năm
về ngang sông rộng
ta ngoắc mòn tay
... trùng trùng gió lộng
(thà như giọt mưa
vỡ trên tượng đá
thà như giọt mưa
khô trên tượng đá
có còn hơn không
mưa ôm tượng đá)
người từ trăm năm
về khơi tình động
ta chạy vòng vòng
ta chạy mòn chân
nào hay đời cạn!
(thà như giọt mưa
vỡ trên tượng đá
thà như giọt mưa
khô trên tượng đá
có còn hơn không
mưa ôm tượng đá)
người từ trăm năm
về như dao nhọn
ngọt ngào vết đâm
ta chết âm thầm
máu chưa kịp đổ
(thà như giọt mưa
vỡ trên tượng đá
thà như giọt mưa
khô trên tượng đá
có còn hơn không
mưa ôm tượng đá)
2.
thà như giọt mưa
gieo xuống mặt người
vỡ tan vỡ tan
nào ta ân hận
bởi còn kịp nghe
nhịp run vồi vội
trên ngọn lông măng
(người từ trăm năm
vì ta, phải khổ!)
(1970)
Trong tình yêu, thơ anh táo bạo vay mượn những hình ảnh thánh thiện để ví von mình, ví von người tình. Có thể nói lối vay mượn này là bước khai phá có một không ai của anh vào thời ấy, khiến thơ anh càng thêm phần đặc dị, ngời sáng, mà lại gần gũi biết bao với tâm tình giới trẻ.
Ma Sœur đưa em về dưới mưa
nói năng chi cũng thừa
phất phơ đời sương gió
hồn mình gần nhau chưa?
tay ta từng ngón tay
vuốt lưng em tóc dài
những trưa ngồi quán vắng
chia nhau tình-phôi-thai
xa nhau mà không hay
(hỡi em cười vô tội
đeo thánh giá huy hoàng
hỡi ta nhiều sám hối
tính nết vẫn hoang đàng!)
em hiền như "ma sœur"
vết thương ta bốn mùa
trái tim ta làm mủ
"ma sœur" này "ma sœur"!
có dịu dàng ánh mắt?
có êm đềm cánh môi?
ru ta - người bệnh hoạn
ru ta suốt cuộc đời
(cuộc đời tên vô đạo
vết thương hành liệt tim!)
đưa em về dưới mưa
xe lăn đều lên dốc
chở tình nhau mệt nhọc!
đưa em về dưới mưa
áo dài sầu hai vạt
khi chấm bùn lưa thưa...
đưa em về dưới mưa
hỡi em còn nít nhỏ
chuyện tình nào không xưa?
vai em tròn dưới mưa
ướt bao nhiêu cũng vừa
cũng chưa hơn tình rụng
thấm linh hồn "ma sœur"... (1971)
Linh Mục 1.
dĩ vãng là địa ngục
giam hãm đời muôn năm
tôi -- người yêu dĩ vãng
nên sống gần Sa-tăng
ngày kia nghe lời quỷ
giáng thế thêm một lần
trong kiếp người linh mục
xao gầy cơn điên trăng!
2.
vì tôi là linh mục
không mặc áo nhà giòng
nên suốt đời hiu quạnh
nên suốt đời lang thang!
vì tôi là linh mục
giảng lời tình nhân gian
nên không có thánh kinh
nên không có bổn đạo
nên không có giáo đường
(một tín đồ duy nhất
vừa thiêu hủy lầu chuông!)
vì tôi là linh mục
phổ lời tình nhân gian
thành câu thơ buồn bã
nên hạnh phúc đâu còn
nên người tình duy nhất
vừa thiêu hủy lầu chuông!
vì tôi là linh mục
không biết mặt thánh thần
nên tín đồ duy nhất
cũng là đấng quyền năng!
3.
tín đồ là người tình
người tình là ác quỷ
ác quỷ là quyền năng
quyền năng là tín đồ
tín đồ là người tình
thiêu hủy lầu chuông tôi
(vì tôi là linh mục
giảng lời tình nhân gian!)
4.
vì tôi là linh mục
không biết rửa tội người
nên âm thầm lúc chết
tội mình còn thâm vai... (1970)
Ðụng chạm, lôi kéo những biểu tượng linh thiêng, đưa vào thơ và đưa vào tình yêu đời thường. Vậy mà anh chẳng làm mất lòng ai. Người ta vẫn cứ thích thú ca hát lời thơ của anh:
Hai năm tình lận đận 1.
hai năm tình lận đận
hai đứa cùng xanh xao
mùa đông, hai đứa lạnh
hơi thở dài như nhau (?)
hai năm tình lận đận
hai đứa cùng hư hao
(em không còn thắt bính
nuôi dưỡng thời ngây thơ
anh không còn luýnh quýnh
giữa sân trường trao thư!)
hai năm tình lận đận
hai đứa đành xa nhau
em vẫn còn mắt biếc
anh vẫn còn nôn nao
ngoài đường em bước chậm
trong quán chiều anh ngóng cổ cao...
2.
em bây giờ, có lẽ
toan tính chuyện lọc lừa
anh bây giờ, có lẽ
xin làm người-tình-thua
chuông nhà thờ đổ mệt
tượng Chúa gầy hơn xưa
Chúa bây giờ, có lẽ
rơi xuống trần gian, mưa
(dù sao thì Chúa cũng
một thời làm trai tơ
dù sao thì Chúa cũng
là đàn ông... dại khờ!)
anh bây giờ, có lẽ
thiết tha hơn tín đồ
nguyện làm cây thánh giá
trên chót đỉnh nhà thờ
cô đơn nhìn bụi bặm
làm phân bón rêu xanh
(dù sao cây thánh giá
cũng được người nhân danh!)
3.
hai năm tình lận đận
em đã già hơn xưa!... (1972)
Anh thoát ra khỏi những hình ảnh và ngôn ngữ thơ chắt lọc, sang cả quí phái của nền thơ truyền thống. Thơ anh, không cứ là trăng là gió, là bến nước, bờ mây, tóc thề và áo dài bay tha thướt, mái tranh, cây đa hay gốc chuối... (như thể là người thơ cứ suốt đời ở nhà quê, cảnh cũ!) mà thay vào đó là những hình ảnh rất thực của thị thành với "tóc demi garçon", tóc bính, cột điện, với xe đạp, cà phê, cà phê đá, rạp cải lương, nhà ga và toa tàu, mùa thi với văn bằng... Tự ví mình như là một gã ngông cuồng, là người phá phách, là người vô đạo, là sa-tăng ác quỷ... nhưng trên thực tế thì anh rất hiền, và trong tình yêu, thường là người thua cuộc, hoặc tự nguyện chịu thua cuộc. Trách người chỉ là trách nhẹ nhàng. Còn lại là trách mình.
Thơ tình của anh vì vậy mà phổ cập, mà thành của chung. Ai đọc cũng thấy, cũng nghe được nhân dáng và kinh nghiệm của chính mình trong ấy. Từ thứ tình yêu reo vui, nhảy múa theo nhịp chân của "cô Bắc-kỳ nho nhỏ" cho đến tình yêu của người tuyệt vọng... anh nói thay mọi người bằng thánh ca của tình yêu.
Nhưng đặc biệt là lúc khổ đau vì tình, thơ anh chùng xuống, gãy đổ, nát tan... và quả là anh đã đi thật sớm, trước thế hệ của anh, trong sự cảm nhận cũng như lối biểu đạt về tình yêu:
Thiên thu
sao thiên thu không là xa nhau?
nên mưa xưa còn giăng ngang hồn sầu
tôi đứng như cây cột đèn gẫy gập
và một con đường cúp điện rất lâu!
sao thiên thu không là chôn sâu?
nên nắng xưa còn hanh mái tóc nhầu
tôi đứng như xe tang ngừng ngập
và một họ hàng khăn trắng buồn đau!
sao thiên thu không là đường chim?
nên mây năm xưa còn trên tay phiền
tôi đứng như tường vôi luống tuổi
và những tàng xanh chùm gởi quê hèn!
sao thiên thu không là lãng quên?
nên tình xưa còn cháy âm thầm
tôi đứng như căn nhà nám lửa
và những người thân trốn chạy vội vàng!
sao thiên thu không là sương tan?
nên mặt trời xưa còn gượng huy hoàng
tôi đứng như dòng sông yên lặng
và những cánh buồm kiệt sức lang thang!
sao thiên thu không là thiên thu?
nên những người yêu là những ngôi mồ
tôi đứng một mình trong nghĩa địa
và chắc không đành quên khổ đau! (1970)
Trong thơ lục bát, anh vẫn theo vần nhịp cũ nhưng lối diễn đạt rất là thảnh thơi, thoải mái, tự nhiên như nói chuyện. Ðây, vần lục bát của hơn 30 năm trước:
Nên thời gian ấy ngùi trông
giọt mưa xanh mấy tuổi nàng
tôi nghe lá rụng như vàng áo xưa
hơi tàn tro ấm lần đưa
ba năm khơi lại cũng vừa đủ đau!
sớm, trưa, chiều, tối, ra, vào
người chưa yên nỗi thầm xao xác lòng
nên thời gian ấy ngùi trông
khô như hạt bụi trưa ngừng ngập bay...
ba năm vuốt sợi tình dài
ừ, tôi còn vụng ngón-tay-dậy-thì
thuở nào sầu đã lâm ly
giờ thêm già héo (nhiều khi hận thù!)
lửa đom đóm mỏi mòn, lu
nhưng tôi cứ buồn vi vu thổi hoài
mưa thì mưa thả phai phai
rồi sau đó sẽ một vài tang thương
bởi quen cầm lược soi gương
biết ai ôm gối mộng thường lâu chăng?
giọt mưa xanh mấy tuổi nàng
tôi nghe lá rụng như vàng áo xưa... (1970)
Hôm nay khi không tình não nùng buồn
gót chân ai bỏ con đường nhớ nhung
gót chân ai nhẹ vô cùng
dẫm lên xác-lá-tôi từng tiếng kêu
gót chân ai bước, nhẹ hều
bước qua tôi, bước, hư nhiều thói quen!
khi không tình não nùng buồn
nhớ hôm qua vẫy tay ngừng ngập xa
tóc ai ngắn ngắn, như là
suốt đời chưa chịu thiệt thà chấm vai
suốt đời khét nắng rong chơi
kể như hơi hướm bàn tay tôi, thừa!
mừng em sớm biết lọc lừa
biết ngây thơ giả -- biết đùa với đau!
biệt ly dù ở ga nào
cho tôi ngồi một toa tàu lãng quên... (1974)
Ðó là Nguyễn Tất Nhiên của tuổi hai mươi, với TÌNH qua tập Thơ Nguyễn Tất Nhiên; và bây giờ hãy đọc Nguyễn Tất Nhiên với TÂM qua Tâm Dung. Tập trước được xuất bản năm 1980 (gom lại những bài thơ cũ trước năm 1975 và một số ít cuối thập niên 70) khi anh mới vượt biên ra hải ngoại; tập sau được xuất bản 9 năm sau đó. Tựa tập thơ là Tâm Dung, bao gồm nhiều bài thơ bắt đầu bằng chữ TÂM (như Tâm khai, Tâm sân, Tâm hoa, Tâm xuân, Tâm hồng, Tâm hương, Tâm mưa, Tâm sương, Tâm ca, Tâm cảm...) được chính tác giả mở đầu bằng một đoạn rất thâm trầm về tư tưởng Phật giáo, khiến người đọc có cảm tưởng là sẽ được đọc một tác phẩm về Thiền vậy:
"Dung, theo nghĩa dung chứa.
Năm lần Phật chỉ cho ngài A Nan, tâm là cái thấy.
Lấy cái thấy phân biệt để chỉ cái thấy vô phân biệt, lấy cái tâm vọng để chỉ cái tâm chơn, lấy ngón tay phàm phu để dụ như ngón tay Phật chỉ trăng. Kẻ trèo đèo này chỉ mong góp một cỏn con Phật sự, vọng động chăng?
Chỉ mong quí thiện hữu niệm tình: vọng mà biết mình vọng, còn hơn không." Nguyễn Tất Nhiên
(Westminster, Ca. ngày 12/01/89)
Nhưng không. Dù mào đầu như thế, dù chọn lựa chủ đề và tựa đề như thế, thơ anh vẫn cứ là thơ, không phải là tập giáo nghĩa khô khan, cứng nhắc. Chỉ khác là anh đã chững chạc hơn (dĩ nhiên!), bớt bông đùa hơn, và trải đều lên những trang thơ là cõi lòng bát ngát của anh.
Tâm nguyệt từ gót sen hài em hút dấu
sầu tôi như lá thẫn thờ bay
ví dù lá ngập đường em bước
lá cũng xin đừng bận gót ai...
từ mắt chia lòng sông cách núi
sầu tôi như bụi khắp không gian
ví dù bụi ố hoen màu trắng
bụi cũng xin đừng vương mắt xanh...
từ tóc bay xuôi dòng quá khứ
sầu tôi như bóng lặng lờ trôi
ví dù bóng đẳng đeo tròn kiếp
bóng cũng xin dòng tóc thảnh thơi...
từ hơi thở của không gian khác
sầu tôi như lịch nhẩn nha rơi
mỗi ngày thiên hạ hồn nhiên xé
lịch mới, như tờ-thương-nhớ-tôi!
từ hoa môi của bình minh khác
núi đồi vắng cả tiếng thông reo
chim thôi cười chúc mừng hoa lá
thành-phố-tôi già ho động cơ
từ vỡ, lành trăng lồng bóng nước
từ em là nguyệt lộng đời sông
từ tôi là một dòng tâm nguyệt
sông có trăng cười sông xóa trăng... (06/01/1989)
Tâm duyên 1.
mùa hè anh lên núi
thấy tóc em lành nhiên
cười theo chiều, gió tối
trời đi vào giấc yên
cho sự sống duyên hiền
từng búp hoa huệ nhỏ
cho sự sống hương êm
từng thoảng hoa huệ thở
sự sống trắng tinh im
từng nụ quan-âm nở
im lặng là xin dâng
tặng đời bông hoa nữa...
mùa hạ anh ra đường
thấy mới tinh tất cả
thấy nắng nôi dịu dàng
đang vuốt ve cây cỏ
thấy cây cỏ dễ thương
đang làm duyên, tóc xõa
thấy lửa trời nung ngon
chín bòn bon sự sống
thấy sự sống nhịp nhàng
theo đỏ, vàng, xanh, đỏ...
thấy phố xá từ tâm
đèn cười hoa ba đóa... (17/01/89)
Rõ ràng là anh đã học ở đâu, từ những vật vô tri, từ người tình, từ cuộc đời, từ nỗi buồn đau, từ cơn thất chí, từ niềm tuyệt vọng, từ cơn bệnh tưởng, từ một nền đạo lý hun đúc tâm anh, hay từ tất cả những thứ trên: đức khiêm nhẫn và lòng tha thứ, chịu đựng vô cùng:
Tịnh khúc buồn ơi...
tôi bỏ tôi chìm đắm
trong tiếng làm thinh của ghế bàn
ghế bàn không sẻ chia sầu thảm
nhưng biết làm thinh lặng cảm thông
bàn ghế đâu như người vui nhảm
tọc mạch đời nhau để miệng mồm
buồn ơi, tôi muốn như bàn ghế
chịu đựng đời không biết thở than!
buồn ơi...
tôi bỏ tôi tàn tạ
lạy đời xin một bận ngó lơ
lần té nặng này tôi muốn giữ
cho tim đừng hối hận trèo cao
lần té nặng này tôi muốn sống
buồn ơi, đừng giết chết tình nhau
buồn ơi, tôi muốn hôn đời sống
dù môi nhầu nứt nẻ thương đau!
buồn ơi...
tôi bỏ tôi ngây dại
có phải thu-bồn chở tóc ai
có phải lần run tay vuốt đại
là lần đời biết thứ tha tôi
có phải lần xin tay nắm... đại
là lần té gập dưới bàn tay?
buồn ơi, tôi muốn dâng đời sống
một đóa hồng đau đớn tuyệt vời!
buồn ơi...
tôi bỏ tôi rời rã
bất lực làm sao trước cuộc đời
ừ nhỉ, trước giờ tôi chiến đấu
cho niềm bất lực buổi hôm nay!
ừ nhỉ, bây giờ tôi mới biết
ghế bàn nên kính trọng như thầy
bàn ghế dạy tôi điều nhẫn nhục
dạy tôi bình thản thứ tha đời
bàn ghế có bao giờ bất lực
có bao giờ biết đợi trông chi
buồn ơi, tôi muốn như bàn ghế
thương đời như thể bỉ khinh thôi!
buồn ơi...
tôi bỏ tôi gần chết
tay đời bít lối chẳng ngưng tay
u đầu sứt trán lao vào vách
tội tình tôi sao nặng thế này?
buồn ơi...
trong đám đông tàn nhẫn
một người chứng kiến đủ cho tôi
nhờ ai, tôi đã thành tâm nhẫn nhờ ai,
tôi phục dưới chân đời
buồn ơi, tôi muốn như dòng lệ
cay đời như kẻ thích ăn cay!
buồn ơi...
tôi có tôi-bàn-ghế
nguyện hiến cho đời một tấm lưng (13/01/89)
Ðiều anh học được, làm được, cũng cho ta học được. Một tấm lòng khiêm cung, khiêm nhẫn. Một tấm lòng bao dung, tha thứ, và trên hết, vẫn tiếp tục yêu thương con người, yêu thương cuộc đời.
Sau đây là bài Tâm Dung, bài thơ được lấy đặt tên chung cho tập thơ. Bài thơ được đặt ở cuối tập. Không rõ sau bài này, Nguyễn Tất Nhiên còn những bài khác chăng.
Nhưng đọc xong bài này, tôi nghĩ đời thơ của anh đến ngang đây cũng quá đủ rồi.Không cần phải thêm một bài nào nữa. Ðây không phải là một bài thơ tuyệt tác của nền văn học nước nhà, mà là lời tỏ tình tuyệt vời của một tín đồ thuần thành của tình yêu, suốt đời chỉ tận tụy yêu, và tụng đọc bài kinh yêu. Sau đây là vài trích đoạn:
Tâm dung 1.
có thể nào trẻ thơ sống bên ngoài lòng mẹ? có thể nào anh sống ngoài tầm mắt em? ...
4.
vì người yêu thương trời đất cũng yêu thương, vì em đang ban phát yêu thương, vì anh cũng là thành phần muôn một của đất trời, nên cho dù em không hay không biết yêu thương vẫn thấm nhuần đều trên cuống đọt ngàn xanh dù em không biết không hay anh vẫn lan âm thầm khắp mặt địa cầu bất đồng khí hậu nhưng phải chăng em, nơi đá khô đất khó nào mà không diệp lục phải chăng em, đồng hoang man dã nào mà không có hoa chỉ tay em? vì em đang ban phát yêu thương nên anh khẩn xin là cọng cỏ được lần nào của chân em, tội nghiệp cho anh lòng còn ham muốn, tội nghiệp cho anh một đơn thân cỏ dại đòi chỉ riêng dành cho ngón ngón nhịp nhàng nhịp từng mỗi nhịp tim... 5.
tình yêu sao mà đau khổ với khổ đau, toại nguyện phải chăng là hạnh phúc? em lý lẽ gần nhau tình sẽ chết, vậy người ta sinh ra, sống, để làm chi? 6.
anh cô đơn ca hát vu vơ lời gì vô ý chỗ đám đông nơi con người dễ dàng phỉ báng kẻ điên khùng, ấy chết, anh chẳng thể viện lý do cuộc sống vắng em, dù em sẽ tin, nhưng thảm trải dưới chân có lời nào giải thích? dưới chân tình yêu, anh xin thành khẩn hứa chịu đựng ngang nhau hết thảy kẻ thân, thù. .......
10.
anh muốn dụi tóc vào những ngón tay em cho hiện ra vài điểm bạc, cho thời gian đẹp phôi phai, cho sen lòng anh ngày mỗi thêm một đóa, cho hoa huệ hoa trang em đong đưa ngần ấy búp nhỏ đơm hương cho gió tình thơm tho không phân biệt chiếm hữu, tự do. 11.
mặt đất kia phù sa đắp bồi cho lúa no hạt mởn mơ bông, ruộng lòng anh đòng đòng tươm mắn sữa vì em là mưa hạ nắng đông là suối sông nguồn lượng cho rễ ngon khoáng chất trẩy hoa cành, vườn lòng anh xanh ngát tận chân trời vì em là yêu thương không phân biệt hoa nào là hoa hạnh phúc quả nào là quả đau thương. 12.
buổi sáng tinh khôi bừng mắt dậy thấy hoa lá không tên bóng động hình bên cửa sổ đùa gió vui sương, môi cười theo hồn nhiên nụ, hoa cười hay anh cười? trưa trưa rực nắng chan vàng đồng hướng dương hực vàng một cánh ngút ngàn chân mây, những nụ cười hàm tiếu tròn đầy, anh cười hay hoa cười? chiều chiều nghiêng nghiêng nắng dịu nghiêng nghiêng mình chào người và người chào đáp lại, người cười hay tim cười? buổi tối anh ngon lành êm ả ngủ, thở đều hòa nơi một kẽ ngón chân em, em thở hay anh thở... (19/01/89)
Sau đó không thấy thơ Nguyễn Tất Nhiên nữa. Rồi một hôm, nghe tin anh mất. Trên chiếc xe cũ, đậu dưới bóng cây, trong vườn một ngôi chùa. Ðời anh, lúc nào cũng đi sớm hơn kẻ khác. Ðời không ruồng bỏ anh, cũng chẳng người tình nào ruồng bỏ anh (không ai có thể ruồng bỏ một người đáng yêu như thế! mà cũng chẳng ai có thể ruồng bỏ được một gã yêu tha thiết, yêu miệt mài, yêu thủy chung suốt đời như thế!).
Chỉ có anh, tự ý đi thật sớm, rời bỏ cuộc đời, để lại một cõi thơ bát ngát. Không cần phải tội nghiệp cho anh, và đừng tưởng anh khổ đau cùng tận! Anh là kẻ hạnh phúc vô cùng tận với tình yêu bất diệt và tấm lòng bao dung hiếm có. Và thơ anh, đã hóa thân khắp nơi khắp chốn: là ngọn cỏ mềm, là gió mơn man, là dòng sông êm, là bàn ghế lặng thinh, là đất trời mênh mang vô hạn... Nơi đó, có đủ hương vị của tình yêu cũng như những hỉ, nộ, ái, ố... bình thường của một con người, dù là con người thi sĩ, hay văn sĩ. Nhưng tất cả đều được dung chứa trong một cõi lòng thật rộng. Có thể nói, giới hạn giữa sống-chết, qua Tâm Dung ấy, không còn nữa.
" Ngày xưa êm giọng ru bà Tiếng đàn, tiếng hát đem ra khoe tài Bây giờ giở hết ngón bài Ru cháu ba đứa, bà hài lòng chưa ? "
Đời người dãi nắng, dầm mưa Tiềng ru hết tối lại trưa : lạc lời À ơi, rồi đến ầu ơi Lời ru bạc tóc một thời đam mê Giờ đây quên cả đường về Một triền đê với trăng thế năm xưa " Cái ngủ mày ngủ hay chưa ? Bà đi đón cháu, chiều mưa sắp về ... " Tiếng ru sao thật não nề Lời ông ru cháu, tràn trề sầu thu ...
Giọng ông đọng ánh trăng lu Trọn đời tròn một lời ru : Kiếp người !
Em có biết khi đêm đen trùm xuống Vạn vật ngủ yên trái đất im lìm Chỉ riêng anh vẫn nao nức con tim Với ảnh hình em buổi đầu gặp gỡ ...
Đôi mắt nâu dịu hiền rộng mở Em nói gì qua ánh mắt nhìn anh ? Đôi mắt ấy nhiều lần gặp lại Nhưng chỉ một lần anh đã nhìn lâu Lặng lẽ phút giây, em bẽn lẽn cúi đầu Từ buổi ấy ai ngờ thành xa mãi ...
"Đường song song " có bao giờ chập lại ? Anh và em đã khác tuyến đường ! Tháng năm qua bước chân đi vững chãi Ngoảnh lại nhìn em - anh thấy xót thương !
Chương trình Thơ Nhạc “Tiếng Chuông Trong Nhạc Và Thơ” đã phát thanh trên làn sóng VOA , được nhạc sĩ Tô Vũ nghe và bổ túc cho một chi tiết về ngôi giáo đường Phong Lôi tỉnh Thái Bình. Chương trình nhạc Tô Vũ hôm nay Bích Huyền thực hiện như một lời cảm ơn đến một tên tuổi lẫy lừng trong âm nhạc Việt Nam…
Theo nhà văn Nguyễn Đình Toàn, thì Tô Vũ đã thổi một luồng gió mới vào việc viết ca khúc Việt Nam thời 1944 đến 1954.
Cũng là tình ca nhưng tình ca của Tô Vũ đã nới rộng chân trời của những lứa đôi. Ông cũng cho thấy tình yêu có nhiều cách bày tỏ. Người ta sống cũng có nghĩa là sống trong một hoàn cảnh và đôi khi nói tới bất cứ điều gì trong hoàn cảnh đó, cũng có thể là đang nói tới cái tình của mình.
Chẳng hạn như ca khúc Tạ Từ mà chúng ta vừa nghe Anh Ngọc diễn tả với nhiều giọng nữ phụ họa, phần hòa âm của Hoàng Trọng.
Rồi đây khi mùa dứt chiến chinh Gió dâng khúc đàn thanh bình Ta đi tìm thơ muôn phương
Toàn thể ca khúc toát ra một vẻ gì đó giống như một bài kinh cầu nguyện. Mỗi hình ảnh được nhắc tới tựa một dấu vết hạnh phúc, của ước mơ được thắp sáng, và trở thành chính đối tượng của lời cầu nguyện.
Tình yêu như thế, vừa có vẻ là lễ vật hiến dâng, vừa là ân sủng được thừa hưởng. Nó có thể mất, có thể còn. Nhưng mất hay không, thì nó cũng vẫn còn ở trong trần thế này, nên nó cũng không thể mất hẳn.
Cho nên dù có đau thương, mỗi tiếng hát vẫn là một lời ngợi ca hạnh phúc.
Lời anh thầm ước khi nao, dưới trăng giữa mùa hoa đào Trong em dư âm còn vang tiếng đồng Lầu chiều còn luyến ánh hồng, Lầu xây trong không -- sóng gió rót chia ly, Phồn hoa em chia tay ra đi, Đưa chân dừng bước bên cầu giã từ mấy câu
Khi về son thắm lòng người thu cách tạ mây trời Nếu tình quê đôi lần nhắc miền quê xa xôi Mỗi khi vang âm ngàn phương, nhạc chinh nhân trong chiều sương, Em có mong giòng sông cũ vẫn suôi niềm thương
Tình anh như thông đầu non, Vời cao trông mây buồn đứng Muôn kiếp cô liêu, Ngàn năm còn reo...
Trong nhạc Tô Vũ, chúng ta cũng không bao giờ thấy lảng vảng hình bóng của cái chết. Vâng, đời sống không dễ dàng lắm đâu nhưng cũng không quá khó khăn bởi vì người ta có thể tìm thấy sự dịu dàng ở khắp mọi nơi.
Tô Vũ không nói tới nỗi nhớ nhung nào cụ thể nhưng người ta dường như vẫn nghe tiếng gọi âm thầm ẩn sau mỗi câu nhạc của ông. Và nỗi nhớ nhung vì thế cứ tràn ngập không gian…
Em đến thăm anh một chiều đông Em đến thăm anh một chiều mưa Mưa dầm dề, đường trơn ướt tiêu điều Em đến thăm anh người em gái Tà áo hương nồng Mắt huyền trìu mến sưởi ấm lòng anh Em đến thăm anh chiều đông giá Em đến thăm anh trời mưa gió Đường xa lạnh lùng
Mặt nhìn mặt, cầm tay bâng khuâng không nói một câu Lời nghẹn ngào, hồn anh như say như ngây, vì đâu? Gió đưa cánh chim trời Đó đây cách xa vời Chiều vui mưa ướt cánh Khá thương kiếp bềnh bồng Dẫu khắng khít đôi lòng Chiều nào em xa anh! Có hay lúc em về Gót chân bước reo âm thầm Trên đường một mình ngoài mưa, mưa như mưa trong lòng anh Lòng bồi hồi nhìn theo chân em, chìm trong ngàn xanh
Trong âm nhạc của chúng ta, không biết có bao nhiêu trận mưa nhưng không có trận mưa nào chứa chan hạnh phúc như chúng ta vừa nghe trong nhạc Tô Vũ. Trận mưa ấy có thể chia xẻ hân hoan cho những ai nghe và hát nhạc Tô Vũ. Bởi vì chẳng cần phải là một tuyệt thế giai nhân, mà chỉ cần một tà áo hương nồng và một ánh mắt trìu mến, người ta cũng đủ để trở thành người trong thơ, trong nhạc. Hay nói cách khác, sống cái tình của mình y như vậy và nó đâu có phải là điều gì khó khăn mà chúng ta không đạt được.
Ta ước mơ một chiều thêu nắng Em đến chơi quên niềm cay đắng Và… quên đường về…
Ôi hạnh phúc mới tuyệt vời và giản dị làm sao!
Chúng ta không biết rõ Tô Vũ có sáng tác nhiều không nhưng chỉ thấy bốn năm bài được phổ biến. Gần đây, tác giả Tạ Từ tiết lộ có khoảng 80 ca khúc lãng mạn của ông chưa hề được phổ biến, chúng ta đón đợi được thưởng thức những bản tình ca này. Ngoài ra, Tô Vũ còn viết lời, với tên thật là Hoàng Phú, cho bài nhạc Ngày Xưa của Hoàng Phúc.
Dòng sông Hát nước xanh mờ sâu Êm đềm trôi về tới nơi đâu Sóng đưa lăn tăn con thuyền ai xuôi Theo gió khơi tiếng ca âm thầm trầm rơi Ngày xưa kia nơi đây đã từng vang hình bóng Đôi quần thoa đem máu đào hoa nở sông nhà Hồn linh thiêng sống trong muôn ngàn sóng Những khi nao chiều vắng trầm đưa lên tiếng ca
Đây là một trong những bài sử ca hay nhất của âm nhạc Việt Nam.
Nói chung qua nhạc, chúng ta biết một Tô Vũ có một tâm hồn nhạy cảm, phóng khoáng và rất nghệ sĩ. Có thể nói bằng sáng tác của mình, Tô Vũ đã nâng nghệ thuật viết ca khúc ở Việt Nam lên cao hơn một bậc. Ông cũng phải được coi là một nghệ sĩ viết lời ca hay nhất của chúng ta. Mỗi chữ, mỗi câu, ông đều viết xứng hợp với những giai điệu chau truốt của ông.
Nghe nhạc Tô Vũ, người ta cảm thấy hình như đời đẹp hơn, tình đẹp hơn…
Ông không triết lý, không khuyên răn ai một điều gì nhưng cái đẹp, cái quý phái trong mỗi ca khúc của ông làm thành một giới hạn. Người ta hiểu rằng, người ta phải vươn tới được cái giới hạn ấy mới thâm nhập được vào đẹp, cái cao quý. Và nghệ sĩ cũng luôn là một loài chim hiếm quý.
Nếu phải chọn một trong ba bài hát Bích Huyền vừa gửi đến trong chương trình: Tạ Từ, Em Đến Thăm Em Một Chiều Mưa và Tiếng Chuông Chiều Thu xem bài nào được coi là tuyệt tác nhất của Tô Vũ thì Bích Huyền tin chắc rằng quý vị đều thích các bài ấy ngang nhau. Phải không ạ?
Xin kính gửi đến ông những bông hồng tạ ơn tươi đẹp nhất và kính chúc ông sức khỏe dồi dào.
Nhắc đến Nguyên Sa là người ta lại nhớ đến những câu thơ Anh vẫn nhớ em ngồi đây tóc ngắn. Mà mùa thu dài lắm ở chung quanh, hoặc Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc. Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường hoặc Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm. Chả biết tay ai làm lá sen.
Biết bao nhiêu thế hệ đã yêu thơ Nguyên Sa.
Trịnh Gia Mỹ, một học trò của ông và cô cũng là một nhà thơ, đã viết: Có thể nói thơ tình Nguyên Sa có nhiều người đọc nhất, có nhiều người thuộc nhất. Nhiều thế hệ đã đọc thơ ông và sẽ đọc thơ ông.” Vâng, người ta đã chép thơ Nguyên Sa tặng nhau để thay lời tỏ tình. Người ta đọc thơ Nguyên Sa cho nhau nghe như đọc những giáo điều tình yêu, để thấy cuộc đời dễ thương hơn, tình thơ mộng hơn…
Trời hôm nay mưa nhiều hay rất nắng? Mưa tôi chả về bong bóng vỡ đầy tay Trời nắng ngạt ngào... tôi ở lại đây Như một buổi hiên nhà nàng dịu sáng
Trời hôm ấy mười lăm hay mười tám? Tuổi của nàng tôi nhớ chỉ mười ba Tôi phải van lơn, ngoan nhé đừng ngờ Tôi phải dỗ như là tôi đã lớn
Người con gái ấy trong thơ là cô bé Trịnh Thuý Nga, sau này là người bạn đời của thi sĩ Nguyên Sa. Hai người từng du học bên Pháp. Khi trở về Sài Gòn, hai ông bà vừa được mời dạy tại các trường Trung học công lập và điều hành trường Trung học tư thục Văn học và Văn Khôi.
“Nga”, bài thơ mà thi sĩ đã ghi trong Hồi ký “là bài thơ và cuộc đời mà ông cực kỳ yêu mến”. Xin trích đoạn:
Và em sẽ cười phải không em Em sẽ không buồn như một con chó ốm Như con mèo ngái ngủ trên tay anh Đôi mắt cá ươn như sắp sửa se mình Để anh giận sao chả là nước biển...
Trong cái khí hậu mênh mang thơ tiền chiến lúc bấy giờ, với một ngôn ngữ rất… đời thường đưa vào thơ như thế/ nhưng vẫn được giới trẻ thời ấy chấp nhận vì những hình ảnh tinh nghịch, dí dỏm trong thơ trở nên rất dễ thương.
Hình ảnh Nga gần như tràn ngập trong tất cả những bài thơ tình của Nguyên Sa… Không có gì là lạ vì người thiếu nữ dễ thương duyên dáng tên Nga sau này là người bạn đời của thi sĩ là một nữ giáo sư rất đẹp, ai đã từng được học với cô đều yêu quý kính trọng vô cùng…
Vâng, thơ Nguyên Sa, nói như nhà văn nhà thơ Bùi Bảo Trúc thì “đang từ cái thế giới tiền chiến “em đẹp bàn tay ngón thon thon”, đang Đinh Hùng “mắt xanh lả bóng chiều hoang dại”, đang Quang Dũng “em đi áo mỏng buông hờn tủi”, đang Huy Cận “em ơi hãy ngủ anh hầu quạt đây”… thì người ta lại dẫn con chó ốm, con mèo ngái ngủ, con cá ươn vào đòi nhập cuộc chơi.
Cái vé vào cửa kỳ lạ đó vẫn đẩy được cánh cửa khép kín của thơ Việt Nam cho người thanh niên trẻ ấy bước vào. Mặc dầu đi với chàng ta là tả ngạn sông Seine, là vườn Lục Xâm Bảo mùa xuân, là những quán ca phê lề đường của thủ đô ánh sáng, là những hơi thở của Prevert, của Apollinaire… Chàng tuổi trẻ đó đưa cho người đọc hình ảnh thơ không giống bất cứ một thứ ước lệ nào dùng trước đó. "Hôm nay Nga buồn như một con chó ốm".
Nguyên Sa đem ngay được cái mới của đôi mắt nhìn từ sân trường Sorbonne, của dòng sông mà Apollinaire nói đến rất nhiều, của những góc đường Prevert đã đứng nhìn ra những đại lộ, công viên mùa thu hay dưới trận mưa hạnh phúc.
Những cánh rừng quên mất mặt xuân Những chân nai đi tìm tay cỏ biếc Những mắt sóng vỡ trên thung lũng biển Những đảo buồn chìm trong im lặng xanh Những thuyền sao chạy lạc trong đêm Hãy cám ơn nụ cười và đôi mắt
Nguyên Sa đã cho thơ một đời sống mới
Trang sức bằng nụ cười phì nhiêu Nhẩy bằng chân chim trên giòng suối cạn Ấy là em trên đường đi buổi sáng Trăng ở trên môi và gió ở trong hồn
Những màu áo vàng, áo xanh, áo tím, và ngay cả đôi găng tay che nắng làn da nữ sinh Sài Gòn cũng thấp thoáng trong thơ… Thơ của ông được tuổi trẻ miền Nam đón nhận ngay lập tức. Một thế hệ mới không còn phải nhờ những bài thơ tiền chiến nói hộ lòng mình. Họ có Nguyên Sa giúp họ tỏ tình với sân trường, “với thơ học trò anh chất lại thành non/với tay trắng anh vào thơ diễm tuyệt”.
Rồi có cả những bài thơ ý từ táo bạo rất bất ngờ như bài thơ có tựa là Bất Ngờ sau đây…
Đêm mưa có chỗ bất ngờ Chỗ thêm ấm áp chỗ thờ phượng nhau Mai về mẹ hỏi đi đâu Đắp chăn chùm kín ngang đầu nghe em Thiên đường có chỗ màu đen Anh nằm nghe thấy vẫn còn tiếng mưa Tiếng trời gõ nhịp tiếng trưa Tiếng cho sâu thẳm tiếng khuya tuyệt vời
Cách đi vào thơ của Nguyên Sa là như thế.
Là những nét tinh nghịch, tươi trẻ, là dáng vẻ mơ mộng lãng mạn, là chữ nghĩa lồng lộng tình cảm, là lấp lánh trăng sao, là buổi tối mưa đêm dìu dặt…
Vào đầu tháng 5/2010, Cục Xuất bản - Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam đã ra lệnh cho các tỉnh, thành phố tiếp tục thu hồi toàn bộ cuốn sách “ Dại tình” còn lưu hành trên thị trường nhằm “ngăn chận kịp thời ảnh hưởng xấu đến người đọc, đặc biệt là giới trẻ”. Tác phẩm này của tác giả Bùi Đình Thi đã bị ngưng phát hành và thu hồi từ ngày 31/3 theo quyết định của Nhà xuất bản Phụ nữ.
Bìa tiểu thuyết "Dại Tình" bị thu hồi
Vì sao “Dại tình” bị xem là có nội dung “không lành mạnh”? Đơn giản chỉ là vì Bùi Đình Thi đã đưa tình dục vào trong tác phẩm này, trong khi ở Việt Nam, đây vẫn còn là vấn đề nhạy cảm, tế nhị.
Cũng giống như trường hợp của cuốn sách “ Sợi xích” của ca sĩ Lê Kiều Như, nói về đời sống tình dục của một cặp vợ chồng trẻ, vừa mới xuất bản đã bị cấm và bị thu hồi.
Như vậy, phải chăng không được đụng đến tình dục khi sáng tác và nếu được thì nên đề cập đến như thế nào để bị coi là “ không lành mạnh”, thậm chí bị xem là văn chương khiêu dâm rẻ tiền đề câu khách ?
Trầu ơi, xanh lá cho mau cho duyên con gái thắm màu vôi yêu
Nghe câu lục bát ấy, nghe lời tỏ bày ẩn chứa những tình ý yêu đương ấy, chúng ta dễ dàng đoán biết được, đấy phải là thơ của một nhà thơ nữ.
Bên dưới câu lục bát đầy nữ tính ấy, người ta đọc thấy tên Như Thương.
Thơ em là giọt nắng của chiều hoàng hôn rơi Thơ em là giọt mưa của đêm buồn rưng rức
Nàng thơ Như Thương từng giới thiệu về thơ mình như vậy. Những giọt nắng vàng phai của buổi chiều tàn và những giọt mưa đêm lặng lẽ rơi xuống thành phố nhỏ êm đềm ở Florida–quê hương thứ hai của nhà thơ–cũng đánh thức những nhớ thương dịu dàng về thành phố nào xa xôi trong trí tưởng ở chốn quê nhà. Ban-mê-thuột, với biệt danh “Buồn-muôn-thuở” nghe thật là… buồn, và với vẻ đẹp của những bông dã quỳ hoang dại mọc lên khắp miền đồi núi, như tấm áo màu vàng rực khoác lên thành phố miền cao nguyên đất đỏ ấy, từ thuở nhà thơ còn là cô nữ sinh hay mơ hay mộng và… chớm biết yêu.
Hôn em, vàng nụ dã quỳ Nụ tình thơ, độ xuân thì năm xưa Sân trường áo trắng sớm trưa Lối mòn đất đỏ, cho vừa yêu em Ngoan ngoan cặp sách êm đềm Trang thơ tình bỗng… chợt mềm trái tim Chân ai cuống quýt đi tìm Một thời hoa bướm đã chìm nơi nao
Cô bé “ngoan ngoan cặp sách êm đềm” ấy, cô nữ sinh áo trắng Như Thương ấy từng sống những tháng năm tươi đẹp nhất của một đời người.
Dường như cô bé rất hiền Tay ngoan cặp sách, mắt viền ngây thơ Dường như ai đó tình cờ Theo chân guốc nhỏ bất ngờ sau lưng
Thế rồi…, một ngày kia cô bỏ trường bỏ lớp, bỏ lại sau lưng thành phố đầy ắp những kỷ niệm, bỏ lại sau lưng những cánh đồng dã quỳ màu vàng rực hoang dại. Cô đã đi biệt, đi mãi không về, để… một người mỏi mắt trông chờ.
Thôi ta như cánh hoa vàng đợi em về lại ngắm hoàng hoa xưa
Nhiều lắm, những câu lục bát đẹp như thế, mượt mà như thế người đọc dễ dàng bắt gặp đâu đó trong những trang thơ của Như Thương.
Dường như em áo quỳ vàng Kiêu sa, góc phố rộn ràng theo em… Hình như ngày tháng mượt xanh Hình như em lại... nhớ anh vô cùng
Những… “hình như, có lẽ, chắc là, dường như” ấy là những bày tỏ thầm kín, và cũng là ngôn ngữ của tình yêu trong thơ Như Thương. Vẫn chưa hết, ta còn gặp những “phải chi”, “giả dụ”, “giá mà”…
Phải chi mưa chẳng là mưa chỉ phơn phớt nhẹ cho vừa nhớ nhau… Phải chi lá chẳng nhuộm vàng mùa đông quên bẵng dịu dàng môi em… Phải chi quá khứ về gần tháng năm đã chẳng bâng khuâng bốn mùa
Thơ tình Như Thương vẽ lên những khuôn mặt khác nhau của tình yêu. Dẫu là khuôn mặt nào, người ta vẫn nhận ra thơ Như Thương, vẫn nghe ra lời mời gọi thật quyến rũ của tình yêu.
Có khi là thầm lặng, là khép kín như tình riêng:
Lạ chưa ánh mắt vô cùng Lặng im, nhưng đã nghìn trùng có nhau Nên duyên e ấp má đào Gót chân em chợt lao đao hồn người
Có khi là bâng khuâng, là vấn vương như tình đầu:
Em, hồn cánh mỏng. Lòng ta men theo lối cỏ một tà áo vương
Có khi là đằm thắm, là dịu dàng như tình cuối:
Thôi như chiếc lá vàng rơi Áo bay theo gió hát lời bình yên
Lại có khi là háo hức, là giục giã như nhắc ta phải gấp gáp, phải vội vàng lên để mà chạy đua với chiếc kim thời khắc của tình yêu. Lại có khi là mê đắm, là cuồng nhiệt như bàng hoàng khám phá được bộ mặt khác của tình yêu:
Anh đôi mắt tình mù rẽ tìm đường hoan lạc Xác thân em ngơ ngác khi chợt biết thiên đàng
Liệu đấy có phải là khuôn mặt đích thực và trọn vẹn nhất của tình yêu? Liệu loài người có tìm đến tình yêu như tìm đến những thiên đàng ái ân, như tìm đến những hoan lạc của cuộc sống? Chắc không ai biết rõ câu trả lời hơn nàng thơ của chúng ta.
Trong những trang thơ của Như Thương, ta còn gặp những câu thơ liêu trai, những câu thơ chập chờn giữa mộng và thực, như tình yêu vẫn luôn luôn là điều gì bí ẩn.
Tưởng em ở chốn này ngờ đâu là kiếp trước để áo em tha thướt về gối mộng đêm nay
Những câu thơ như được phủ lên một lớp sương mù huyền hoặc. Huyền hoặc tựa hồ những bông hoa hạnh phúc mà ta chỉ có thể ngắm nhìn từ xa chứ không sao lại gần được. Huyền hoặc tựa hồ những kẻ yêu nhau có vươn tay về phía nhau nhưng không sao chạm tay vào nhau được.
Thật kỳ lạ, tình yêu dường như không bao giờ cũ, không bao giờ già, không bao giờ có tuổi. Sau bao mùa tang thương dâu bể, sau bao nhiêu giông tố dập vùi, người ta vẫn luôn luôn muốn được đi lại từ đầu, muốn được sống thêm một lần nữa “một thời để yêu”, muốn được yêu thêm một lần nữa bóng hình nào đã đi qua đời mình. Như là câu hát trong một tình khúc nào, “Tôi sẽ về lại để yêu em thêm một lần nữa”...
* * *
Thôi thì, anh – cánh chim bay Em tà áo mỏng theo mây nghìn trùng Ngắm trong gương lược ngỡ ngàng Nhìn theo mây tóc vội vàng chia xa…
Cho em giữ tóc tơ mềm buộc tình xưa ấy êm đềm bên anh Biết đâu vạt cỏ thiên thanh mai kia lặng lẽ hoá thành vàng thu
Những câu lục bát ấy ở trong bài “Vàng thu” của Như Thương. Nghe những tình ý và âm điệu của bài thơ, chúng ta như nghe đọng lại một chút vấn vương, một thoáng ngậm ngùi. Ngậm ngùi như cánh chim đã bay mất, như ngày vui qua mau, như những khoảnh khắc hạnh phúc thật ngắn ngủi. Dẫu sao cũng cám ơn Như Thương, cám ơn những câu thơ tựa hồ những khúc nhạc êm dịu làm lay động những trái tim, làm đẹp thêm cho những mối tình.
Cầu cho tình yêu không còn là nỗi cách chia, để cho những đôi tình nhân trên đời này có đủ bốn mùa yêu nhau, và mãi mãi được gần bên nhau…