Bệnh tả (Cholera) là một bệnh nhiễm trùng đường ruột, do vi trùng gây ra. Độc tố của vi trùng gây tiêu chảy nặng, khiến cho cơ thể con người bị mất nước. Do sinh trưởng trong nguồn nước, nên vi trùng bệnh tả dễ lây lan trong mùa bão lụt.
Nguy cơ dịch tả bùng phát do ngập lụt
Bệnh tả (Cholera) là một bệnh nhiễm trùng đường ruột do vi trùng Vibrio cholerae gây ra, độc tố của vi trùng này gây tiêu chảy nặng kèm theo mất nước. Robert Koch là người nhận dạng được vi trùng gây bệnh tả vào năm 1883.
Bệnh tả xuất hiện châu Á khoảng 600 năm trước Công nguyên, ghi nhận lần đầu tiên trong y học vào năm 1563 tại Ấn Độ và đại dịch vào năm 1817-1821, tiếp đến là nước Nga, châu Âu, Bắc Mỹ, châu Phi, Nam Mỹ.
Năm 1832, gần 40.000 người dân Paris chết, nạn nhân có cả tể tướng.
Dịch tả tấn công nước Anh vào năm 1848-1849 đã làm 70.000 người chết, Đại dịch năm 1854 đã cướp đi sinh mạng 1/8 dân số thành phố London.
Sang thời cận đại, riêng tại Bắc Kỳ thời Pháp thuộc năm 1937 dịch tả giết 75.000 người.
Dịch tả vào Peru vào năm 1991, lan truyền sang Ecuador, Colombia, Mexico và Nicaragua kết quả hơn 12.000 người chết.
Nguyên nhân gây ra bệnh tả thường là dùng nước nhiễm vi trùng gây bệnh. Vi trùng gây bệnh có nhiều nhất ở trong phân của người bệnh và trong nước thải có chứa phân. Ngoài ra cá và các thực phẩm khác từ nước nhiễm vi trùng gây bệnh cũng có thể là nguồn gây bệnh do nấu ăn không kỹ hoặc ăn hải sản sống.
Bệnh tả có thể tránh nếu có ý thức với bản thân và cộng đồng, bằng cách ăn chín và uống sôi. Tuyệt đối không ăn: rau sống, hải sản tươi sống, tiết canh, uống nước đá... trái cây phải ngâm nước muối, gọt sạch vỏ trước khi ăn. Tay chân luôn vệ sinh sạch sẽ, rửa tay bằng xà phòng sạch sẽ trước khi ăn uống và sau khi đi vệ sinh. Khi thành dịch thì dịch tả có tốc độ lây lan và gây tử vong khủng khiếp, không như tiêu chảy.
Biện pháp chữa trị quan trọng nhất là phải cung cấp lại đầy đủ nước, đường và muối, thường phải được tiêm vào mạch máu để không phải qua đường ruột. Ở các nước Thế giới thứ ba, người ta cũng chữa trị thành công và đơn giản bằng cách cho uống nước thay thế. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) khuyên nên cho uống một dung dịch đường và muối gồm có các thành phần sau:
Với những biện pháp này tỷ lệ tử vong có thể giảm từ 60% xuống còn 1%. Cách phòng bệnh tốt nhất là phải sử dụng nước sạch trong ăn uống và sinh hoạt. Chủng ngừa bệnh chỉ có hiệu lực trong vòng khoảng 6 tháng và chỉ ở khoảng 80% người được tiêm chủng.
Các nghiên cứu gen mới đây cho thấy rằng mức độ dễ bị lây nhiễm của một người đối với bệnh tả phụ thuộc vào nhóm máu của họ. Người có nhóm máu O dễ bị lây nhiễm nhất trong khi người có nhóm máu AB có khả năng kháng cự nhiều nhất, gần như là miễn nhiễm. Giữa hai thái cực này là những người có nhóm máu A và B với nhóm máu A có khả năng kháng cự nhiều hơn nhóm máu B.
Bệnh tả có dấu hiệu bộc phát trở lại ở Việt Nam và càng nguy hiểm vào mùa bão lụt. Trả lời phỏng vấn đài RFI, bác sĩ Nguyễn Đình Nguyên tại Úc cảnh giác về vấn đề nước, vì bệnh tả lây lan theo nguồn nước.
Cuộc đời ôi những mong manh Cái vui tiếc nuối cái tình đã qua Tôi xin giữ cái tâm và Niềm tin Thượng Đế rất xa mà gần. (Thơ Hoa Văn, Như Áng Mây Hồng)
THANH THANH
Một người quen đến tiệm để hớt tóc. Vừa hớt tóc, vừa trò chuyện. hai người thao thao bàn luận về nhiều vấn đề. Rồi bỗng dưng chuyển sang đề tài: có thượng đế hay không?
Thợ hớt tóc nói:: Trên đời này làm gì có Thượng Đế!
Ông nói tiếp: Thì cứ ra phố mà xem. Nhiều trẻ em phải lang thang kiếm sống. Lắm người già yếu còn phải còng lưng dầm mưa dãi nắng bán rong. Bao kẻ không nhà đêm đêm vẫn mượn vỉa hè nằm co ro, lăn lóc. Chưa kể là vào các bệnh viện lúc nào cũng thấy chen chúc và dẫy đầy nghịch cảnh đau lòng…
Nếu quả thật trên đời này có một Đấng Thượng Đế từ bi luôn thương xót chúng sinh, thì cớ sao những mảnh đời khổ ải đó lại không được Ngài cứu vớt?!
Trả tiền xong, khách bước ra khỏi tiệm hớt tóc và tình cờ bắt gặp bên kia đường một người râu tóc lùm xùm, thậm thượt, rõ ra đã lâu ngày không hớt không cạo.
Khách liền quày trở vào tiệm: Anh biết chứ? Trên đời này làm gì có thợ hớt tóc!
Thợ hớt tóc sửng sốt: Nói vậy mà nghe được à?! Thế tôi là ai. Ai vừa hớt tóc cho anh?
Khách kéo thợ hớt tóc ra cửa, chỉ sang bên kia đường: Đấy! Thợ hớt tóc không hề có, vì nếu có thì người kia đã không phải để râu ria tóc tai lùm xùm như vậy.
Sai bét! Thợ hớt tóc vẫn luôn có, nhưng tay đó không chịu bước vào tiệm hớt tóc thì dẫu có đông có nhiều thế nào chăng nữa, thợ hớt tóc cũng đành bó tay.
Khách mỉm cười: Chính xác! Thượng Đế cũng vậy mà thôi. Ngài luôn luôn đưa tay ra chờ đợi chúng ta nhưng chúng ta không chịu tìm đến mà nắm lấy tay Ngài. Chúng ta luôn tìm đủ cách phủ nhận Thượng Đế, và kiêu ngạo với tài hèn sức mỏng của mình. Đó là nguyên do sâu xa của mọi nỗi đau khổ trên thế gian. (Công Giáo Và Dân Tộc, số 1756, ngày 07-5-2010 )
Con người thích nói về phần phúc của mình và cũng hay đổ trách nhiệm cho người khác, kể cả Thiên Chúa. Mẩu truyện trên là một ví dụ.
Con người rất nhiều lần, nhiều việc, không chịu nhìn lại bản thân, rút kinh nghiệm, kiểm điểm, mà thường tránh né. Tìm cách đổ lỗi, đẩy trách nhiệm, quy tội cho chó mèo heo gà, cho bà con lối xóm, cho gia đình họ hàng, cho nhà thờ, cho xã hội, cho Thiên Chúa. Mặc dù mọi sự bất ổn đều do mình gây ra.
Con người luôn đòi hỏi người khác, tôn giáo, quốc gia, Thiên Chúa phải làm tốt mọi sự theo ý mình, còn mình lại đứng ngoài cuộc. Hoặc còn gây ra bất ổn nữa.
Nói về đau khổ
Khi nói về đau khổ, người ta nghiên cứu và cho thấy. Có tới: - 85% đau khổ do con người gây ra. - 10% đau khổ do ngẫu nhiên - 5% đau khổ do thiên nhiên như núi lửa, động đất, sóng thần, mưa bão, giông tố…
Nếu con người không gây ra đau khổ, thì 15% kia chia đều cho dân số thế giới, thì mỗi người chỉ phải chịu có một tí tẹo teo đau khổ.
Câu truyện trên chỉ là một trong vô vàn lý do để nói xấu Thiên Chúa, khi nhìn thấy bất hạnh, bất công ở đời. Phải chăng do Thiên Chúa. Ấy là vì họ không chịu đón nhận sự tốt lành từ trời cao, hoặc nhận mà không chịu mang ra sử dụng, làm giàu cho cuộc sống. Đau khổ do con người gây ra thì nhiều vô số.
Đau khổ vì tìm kiếm điều lớn lao
Đức Giêsu nói: "Anh em phải coi chừng những ông kinh sư ưa dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, thích được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng. Họ ưa chiếm ghế danh dự trong hội đường, thích ngồi cỗ nhất trong đám tiệc” (Mc 12,38-39).
Có người quan niệm rằng muốn có hạnh phúc thì phải làm, phải thể hiện được những điều phi thường, kinh thiên động địa. Hay gây được chú ý của tập thể, được nhiều người vỗ tay, hoan hô chúc tụng. Người có thái độ này rất dễ dẫn đến việc coi khinh những sự bé nhỏ trong đời thường.
Đây là loại người đi tìm sự đồng thuận. Nên mọi việc làm đều mong sự chấp nhận của người khác, còn nếu không thì sẽ bất an, lo lắng.
Hạnh phúc là hạnh phúc. Hạnh phúc không cần phải chứng minh là có hay không. Và cũng không lệ thuộc bởi bề ngoài.
Hạnh phúc thật nằm trong sâu thẳm tâm hồn mỗi người. Trái tim sẽ nhẹ nhàng đón nhận cuộc sống và làm cho ta hài lòng.
Mỗi giây phút trôi qua đều quý giá, ta biết trân trong thì sẽ thấy hạnh phúc.
Mỗi lời nói, việc làm, mỗi lần gặp gỡ đều là nguồn hạnh phúc cho ta.
Nếu biết yêu mến cuộc sống, quý trọng thời gian, và chu toàn trách nhiệm, bổn phận riêng theo từng ơn gọi của mình, thì ta sẽ có quá nhiều hạnh phúc trong cuộc đời của mình.
Đau khổ do tham vọng
“Có một bà goá nghèo đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng xu Rôma. Đức Giêsu lên tiếng: bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết. Vì bà rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi sống mình" (Mc 12,38-44)
Tham vọng không xấu. Nó chỉ xấu khi ta không biết lượng sức, không biết dừng lại và trở nên thái quá.
Quả thật, tham vọng có sức hấp dẫn cao nên có thể lôi cuốn rất nhiều người đến đường hạnh phúc, bình an, thành đạt, phát triển, thăng tiến, hoàn thiện. Nhưng nó cũng nhận chìm quá nhiều người vào u mê tăm tối, thất bại, bất hạnh, đau khổ, tuyệt vọng, tự tử.
Tham vọng làm cho con người mệt mỏi, tranh đấu, bon chen đến mệt nhoài, quên cả bản thân, gia đình, quên cả hiện tại để sống cho tương lai, đến độ thành hão huyền.
Nếu biết hài lòng với cuộc sống hiện tại thì hạnh phúc biết bao.
Nếu biết hạnh phúc với thành quả do cố gắng của mình sau mỗi ngày thì dễ chịu dường nào.
Mời các bạn nghe audio của Hội Thánh Tin Lành với chủ đề "Nếu không có Thượng Đế ?"
Năm 1010, tương truyền khi vua Lý Công Uẩn rời kinh đô từ Hoa Lư đến đất Đại La thì thấy rồng bay lên nên gọi tên kinh đô mới là Thăng Long, hay "rồng bay lên" theo nghĩa Hán Việt. Ngày nay tên Thăng Long còn dùng trong văn chương, trong những cụm từ như "Thăng Long ngàn năm văn vật"... Năm 2010, là kỷ niệm 1 thiên niên kỷ của Thăng Long – Hà Nội.
Năm 1243, nhà Trần tôn tạo sửa đổi và gọi Thăng Long là Long Phượng. Cuối thời Trần, Hồ Quý Ly cho đặt tên là Đông Đô.
Năm 1428, Lê Lợi đặt kinh đô tại Thăng Long và đổi tên là Đông Kinh, vào khoảng thế kỷ 16, khi Đông Kinh trở thành một đô thị sầm uất, có cả người Châu Âu đến buôn bán, thì trong dân gian bắt đầu gọi Đông Kinh là Kẻ Chợ. Theo 1 người đã đến kinh đô Thăng Long là ông William Dampier người Anh thì tại đây có tới 20.000 nóc nhà, thường thấp, tường trát bùn và mái lợp rơm. Dù vậy cũng có 1 số nhà xây bằng gạch và lợp ngói.Kinh thành có 2 lâu đài rất tầm thường được dựng bằng gỗ. Hoàng cung được xây dựng nguy nga hơn dù cũng làm bằng gỗ.
Năm 1805, sau khi thống nhất đất nước, nhà Nguyễn đặt kinh đô tại Phú Xuân (Huế) và cho phá thành Thăng Long để xây thành theo phương pháp của phương Tây do kỹ sư Pháp giúp đỡ. Đồng thời vua Gia Long đổi tên chữ Hán của Thăng Long 昇龍, với nghĩa là "rồng bay lên" thành ra từ đồng âm Thăng Long 昇隆, nhưng mang nghĩa là "thịnh vượng" khác nghĩa với thời các triều đại trước, vì cho rằng Thăng Long lúc đó không còn là kinh đô nơi vua ở cho nên không dùng biểu tượng rồng, linh vật tượng trưng cho vương quyền. Gia Long đổi phủ Phụng Thiên thành phủ Hoài Đức, còn tại kinh đô Huế cho lập phủ Thừa Thiên, trực lệ kinh kỳ. Thăng Long 昇隆 tồn tại cho đến thời vua Minh Mạng khi bãi bỏ Bắc Thành tổng trấn và thành lập tỉnh Hà Nội, năm 1831 niên hiệu Minh Mạng thứ 12.
Từ tháng 12 năm 2002 đến nay, trên khu vực thuộc Hoàng thành Thăng Long xưa (khu vực giữa các phố Hoàng Diệu, Hoàng Văn Thụ, Độc Lập, Bắc Sơn ở Hà Nội), các nhà khảo cổ học đã tiến hành khai quật trên một diện tích khoảng hơn 19 nghìn m², phát lộ một phức hệ di tích-di vật rất phong phú, đa dạng từ La Thành-Đại La (thế kỉ 7-9) đến thành Thăng Long (thế kỉ 11-18) và thành Hà Nội (thế kỉ 19).
Xin giới thiệu với các bạn video giới thiệu về thành Thăng Long - nay là Thủ đô Hà Nội .
Với truyền thống anh hùng của tổ tiên Thăng Long xưa , việc tiếp nối và giữ gìn nền văn hóa 1000 của Thăng Long nói riêng và lịch sử 4000 năm của dân tộc nói chung , xin giới thiệu đến các bạn một số thông tin về Thăng Long Nhân Kiệt .
Võ Tắc Thiên (17 tháng 2, 625 – 16 tháng 12 năm 705) , tên thật là Võ Chiếu . Bà là nữ hoàng duy nhất trong lịch sử Trung Quốc, và để lại nhiều tranh luận về công tội giữa các nhà sử học. Bà đã trải qua các vị trí tài nhân, chiêu nghi, hoàng phi, hoàng hậu, hoàng thái hậu, hoàng đế, thái thượng hoàng, nhưng cuối cùng trước khi qua đời đã quay lại với vị trí hoàng hậu của nhà Đường. Việc bà nổi lên nắm quyền cai trị bị các nhà sử học Khổng giáo chỉ trích mạnh mẽ nhưng các nhà sử học từ sau thập kỷ 1950 đã có cái nhìn khác về bà.
Bà là nữ hoàng duy nhất trong lịch sử Trung Quốc đã lập ra triều đại của riêng mình, nhà Võ Chu , và cai trị dưới danh hiệu Thánh Thần Hoàng Đế từ 690 đến 705.
Gia đình bà có nguồn gốc ở huyện Văn Thuỷ , thuộc quận Tinh Châu ( hiện nay là thành phố Thái Nguyên tỉnh Sơn Tây). Cha bà là Võ Sĩ Hoạch (577-635), một thành viên thuộc một gia đình quý tộc danh tiếng ở Sơn Tây. Mẹ bà là Dương Thị (579-670), một phụ nữ thuộc gia đình quý tộc hoàng gia nhà Tuỳ. Võ Tắc Thiên không phải sinh ở Văn Thuỷ, bởi cha bà đảm nhận nhiều chức trách ở nhiều nơi trong suốt cuộc đời. Bà được cho là sinh ở Lợi Châu hiện là thành phố Quảng Nguyên, phía bắc tỉnh Tứ Xuyên, cách Văn Thủy khoảng 800 km về phía tây nam, nhưng một số nơi khác cũng được cho là nơi sinh của bà gồm cả thủ đô Trường An.
Bà được đưa vào hậu cung Đường Thái Tông nhà Đường vào khoảng năm 637 và là một Tài Nhân, tức là một trong chín người thiếp cấp thứ năm. Thấy tên Võ Chiếu không đẹp, Đường Thái Tông đặt tên cho bà là Mị, có nghĩa là "duyên dáng, xinh đẹp", và vì vậy còn được người Trung Quốc gọi là Võ Mị Nương. Có thể thời gian này bà đã gặp thái tử Lý Trị và đã có quan hệ thân thiết với vị vua tương lai này.
Năm 649, Đường Thái Tông băng hà, theo luật lệ, Võ Mị Nương phải rời cung để vào chùa Cảm Nghiệp xuống tóc. Thái tử Lý Trị lên ngôi, tức là Đường Cao Tông.
Năm 651, Đường Cao Tông đưa bà trở lại hoàng cung sau khi đi cúng tế cho cha tại chùa Cảm Nghiệp. Hoàng hậu họ Vương của Cao Tông đã chủ động hỗ trợ đưa bà về để vì khi đó Cao Tông đang sủng ái Thục phi họ Tiêu, và muốn dùng Võ Tắc Thiên trong việc tranh giành quyền lực. Có thuyết lại cho rằng bà chưa từng rời hoàng cung. Tiêu phi bị thất sủng, tháng 5 năm 651, bà được phong Chiêu Nghi, việc này bị các nhà nho chỉ trích nặng nề vì đã từng là vợ của vua trước.
Năm 654, Võ Tắc Thiên sinh một con gái, nhưng đứa trẻ bị chết sau khi sinh vài ngày. Trước khi đứa trẻ chết, Vương hoàng hậu có đến thăm, do đó Cao Tông nghi ngờ hoàng hậu đã hạ thủ. Truyền thuyết cho rằng chính Võ Tắc Thiên đã giết con để vu tội cho hoàng hậu. Võ Chiêu nghi được phong làm Thần phi.
Năm 655, Vương hoàng hậu và mẹ mời đồng cốt yếm bùa mong gia hại Võ Tắc Thiên, nhưng việc bại lộ. Đường Cao Tông phế bỏ Vương hoàng hậu, dù rất nhiều các đại thần can ngăn, nhất là quốc cữu Trưởng Tôn Vô Kỵ.
Tháng 10 năm 655, Đường Cao Tông phong Võ Thần phi làm hoàng hậu trước sự phản đối của nhiều đại thần. Vương hoàng hậu và Tiêu thục phi bị kết trọng tội, và bị Võ hậu giết hại một cách dã man. Năm 659, Võ hậu vu tội cho Trưởng Tôn Vô Kỵ, cách chức đuổi khỏi triều đình, gạt được chướng ngại vật lớn nhất của mình.
Năm 660,Đường Cao Tông bị trúng gió đột quỵ, Võ hậu liền tham gia chính sự từ phía sau rèm cùng vua, nên gọi là Nhị thánh lâm triều. Cao Tông nhất nhất đều nghe theo lời Võ hậu, tuy nhiên nhận thấy sự nguy hiểm của bà, nên đã ngầm ra lệnh cho Thượng Quan Nghi tìm cách phế truất. Việc bại lộ, Thượng Quan Nghi bị Võ hậu xử tội chết, Cao Tông cũng mất hết quyền lực, hoàn toàn phụ thuộc vào Võ hậu. (Tuy nhiên Võ hậu về sau lại rất trọng dụng Thượng Quan Uyển Nhi, là cháu nội của Thượng Quan Nghi).Thái tử Lý Trung (con của Cao Tông và một người thiếp thấp kém, Vương hoàng hậu nhận làm con) bị giáng và bị giết. Con cả của Võ hậu là Lý Hoằng được phong thái tử.
Năm 667, Cao Tông quá yếu, giao cho thái tử Lý Hoằng giám quốc, thực ra vẫn do Võ hậu làm chủ. Năm 674, triều đình tôn Cao Tông là Thiên hoàng, Võ hậu là Thiên hậu.Võ Tắc Thiên thích dùng tôn xưng Thiên hậu cho đến tận khi làm hoàng đế.Võ hậu phế Thái tử Lý Hoằng, đưa con thứ hai là Lý Hiền lên làm thái tử, rồi lại giáng Lý Hiền, đưa con thứ ba là Lý Hiển lên thay. Trong giai đoạn này, Võ hậu đã có nhiều chính sách chính trị đổi mới, được đánh giá cao.
Năm 683, Đường Cao Tông băng hà, thái tử Lý Hiển lên ngôi, tức là Đường Trung Tông, Võ Tắc Thiên làm Hoàng thái hậu, nắm toàn bộ chính sự. Một tháng sau, với lý do Đường Trung Tông để vợ là Vi hoàng hậu lộng quyền, Võ hậu phế vua xuống làm Lư Lăng Vương, lập con trai thứ tư (Lý Đán) lên làm vua, tức Đường Duệ Tông.
Trong các năm tiếp theo, Võ hậu lần lượt ra tay với các vương gia là con của Đường Thái Tông như Việt vương Lý Trinh, Lang Nha vương Lý Trọng. Đồng thời Võ hậu cho xây dựng nhiều cung điện, lớn nhất là tòa Minh Đường cao gần ba trăm trượng, sau đổi là Vạn Tượng Thần cung. Minh Đường hoàn thành, có kẻ dâng viên đá trên có chữ "Thánh mẫu lâm nhân, Vĩnh xương đế nghiệp" nên Võ hậu đổi tôn hiệu của mình là Thánh mẫu thần hoàng.
Năm 690, sư Pháp Minh dâng bốn quyển Đại Vân kinh ca ngợi Võ hậu là Phật Di Lặc xuống trần, là chủ của thiên hạ. Võ hậu sai in rồi phát ra khắp nơi, đề cao Phật giáo trên Đạo giáo.
Tháng 9 năm 690, Võ hậu lên ngôi Hoàng đế, đổi quốc hiệu là Chu với ý kế tục sự nghiệp nhà Chu xưa kia, quốc tính là họ Võ, tôn Chu Văn Vương làm Thủy tổ Văn hoàng đế. Giáng Đường Duệ Tông xuống làm Hoàng tự, rồi sau đó phế bỏ, lại phong cháu là Võ Thừa Tự làm Ngụy vương, Võ Tam Tư làm Lương vương.
Trước đó, Võ hậu đổi cách viết chữ Chiếu trong tên của mình với hình Mặt trời, Mặt trăng trên không, để tỏ quyền tối thượng. Cùng với đó là 11 chữ khác gọi là Võ hậu tân tự
Lý thuyết chính trị Trung Quốc truyền thống không cho phép một phụ nữ được lên ngôi, Vũ hậu quyết định dẹp yên chống đối và đưa các quan lại trung thành vào triều.Thời cai trị của bà để dấu ấn về sự xảo quyệt tài tình và chuyên quyền hung bạo.Dưới thời cai trị, bà lập ra Cảnh sát mật để đối phó với bất kỳ chống đối nào có thể nổi lên, với cái tên khét tiếng Lai Tuấn Thần, Chu Hưng, nhưng đồng thời cũng có những hiền tài như Địch Nhân Kiệt.
Khi về già, Võ hậu sủng ái hai anh em Trương Dịch Chi và Trương Xương Tông là hai kẻ bất tài nhưng đẹp trai, khiến triều đình rất bất bình. Tháng 10 năm 695, sau nhiều lần thêm chữ, tên của bà được đổi thành Thiên Sách Kim Luân Thánh Thần Hoàng Đế, làm lễ phong thiền ở Tung sơn.
Võ hậu phân vân khi chọn người truyền ngôi, giữa con ruột họ Lý và cháu ruột họ Võ. Cuối cùng với sự khuyên giải của Địch Nhân Kiệt, bà quyết định lập Lý Hiển làm thái tử. Tuy nhiên bà bắt các con thề độc rằng không được làm hại họ Võ .
Đến năm 705, Võ hậu ngoài 80 tuổi đã rất ốm yếu. Tháng 2, tể tướng Trương Giản Chi lãnh đạo cuộc đảo chính giết hai anh em họ Trương, xông vào cung buộc Võ hậu truyền ngôi cho thái tử Lý Hiển. Đường Trung Tông Lý Hiển lại lên làm vua lần nữa, Võ hậu trở thành Thái thượng hoàng, rồi qua đời vào tháng 11 năm 705. Khi lâm chung bà yêu cầu dùng thụy hiệu là Hoàng hậu chứ không phải Hoàng đế, do đó không có miếu hiệu.Bà được chôn tại Càn Lăng, cùng chỗ với Đường Cao Tông. Bia mộ của bà là một tấm bia để trống hoàn toàn (Vô tự bi), với ý là để đời sau phán xét.
Mặc dù chỉ tồn tại một thời gian ngắn, theo một số nhà sử học, nhà Võ Chu đã có được một hệ thống bình đẳng xã hội về giới tốt hơn so với nhà Đường giai đoạn tiếp sau nó.
Nhìn vào các sự kiện trong cuộc đời bà theo ám chỉ trong văn chương có thể mang lại nhiều ý nghĩa: một phụ nữ đã vượt qua những giới hạn của mình một cách không thích hợp, thái độ đạo đức giả khi thuyết giáo về lòng trắc ẩn trong khi cùng lúc ấy lại tiến hành mô hình tham nhũng và hành xử một cách xấu xa, và cai trị bằng cách điều khiển từ phía hậu trường.
Một tác giả nổi tiếng người Pháp là Shan Sa (tức Sơn Táp), sinh tại Bắc Kinh, đã viết một cuốn tiểu thuyết mang tính tiểu sử tên là Impératrice (tên tiếng Việt là Nữ hoàng, do nữ dịch giả Lê Hồng Sâm dịch, sách được xuất bản tại Việt Nam vào tháng 2 năm 2007) dựa trên cuộc đời của Võ hậu.
Tiểu đường là bệnh lý trong đó cơ thể không tạo ra hay sử dụng insulin một cách thích hợp. Insulin là một nội tiết tố được tạo ra từ tuyến tụy, một tạng gần bao tử. Insulin cần để biến đường và các thức ăn khác thành năng lượng Khi mắc bệnh tiểu đường, cơ thể bệnh nhân hoặc là không tạo đủ insulin hoặc không thể sử dụng được chính insulin của cơ thể như bình thường được hoặc do cả hai khả năng trên. Làm cho đường tích tụ quá cao trong máu bệnh nhân
Tiểu đường được định nghĩa khi đường huyết lúc đói từ 126 miligam mỗi decilít (mg/dL) trở lên. “Tiền tiểu đường” là một tình trạng bệnh lý trong đó ngưỡng glucose trong máu cao hơn mức bình thường nhưng chưa đến mức bị tiểu đường. Bệnh nhân tiền tiểu đường có nguy cơ tiến triển thành tiểu đường týp 2, bệnh tim và đột quỵ và mắc phải một trong những tình trạng bệnh lý này:
_ Giảm khả năng điều chỉnh glucose lúc đói (100 to 125 mg/dL) _ Giảm khả năng dung nạp glucose (nồng độ glucose lúc đói dưới 126 mg/dL và nồng độ glucose trong khoảng 140 đến 199 mg/dL hai giờ sau khi làm nghiệm pháp dung nạp glucose bằng đường uống)
Tiểu đường týp 1 và týp 2 là gì?
Tiểu đường týp 2 là dạng thường gặp nhất. Đa số hay gặp nhất ở tuổi trung niên; tuy nhiên, vị thành niên và thanh niên bị tiểu đường týp 2 đang gia tăng với một tốc độ đáng báo động. Bệnh tiến triển khi cơ thể không tạo ra đủ insulin và không sử dụng hiệu quả lượng insulin đã tạo ra (đề kháng với insulin).
Tiểu đường týp 1 xảy ra ở trẻ em và thanh niên Trong tiểu đường týp 1, tụy kém hay không tạo được insulin. Nếu không được tiêm insulin hàng ngày, bệnh nhân tiểu đường týp 1 sẽ không sống được.
Cả hai dạng tiểu đường có thể có tính di truyền theo gene Tiền sử gia đình có người bị tiểu đường có thể tăng đáng kể nguy cơ phát bệnh tiểu đường. Bệnh tiểu đường không được điều trị có thể dẫn đến nhiều biến chứng nặng. Các biến chứng này gồm mù mắt, bệnh thận, bệnh thần kinh, cắt cụt chi và bệnh tim mạch (CVD).
Bệnh tiểu đường, đề kháng insulin và CVD có mối liên hệ ra sao?
Bệnh tiểu đường có thể điều trị được, nhưng thậm chí khi ngưỡng glucose nằm trong mức kiểm soát vẫn làm tăng nguy cơ bị bệnh tim và đột quỵ rất nhiều. Trên thực tế, đa số bệnh nhân tiểu đường tử vong do nhiều dạng bệnh tim mạch.
Tiền tiểu đường và nối tiếp là tiểu đường týp 2 thường gây ra do đề kháng insulin. Khi có sự đề kháng insulin hay tiểu đường xảy ra kèm theo các yếu tố nguy cơ bệnh lý tim mạch khác (chẳng hạn như béo phì, huyết áp cao, rối loạn cholesterol và triglycerides máu cao), nguy cơ bị bệnh tim và đột quỵ lại còn cao hơn nữa.
Đề kháng insulin đi kèm với xơ vữa động mạch (mảng bám chất béo trong động mạch) và bệnh mạch máu ngay cả trước khi có chẩn đoán tiểu đường. Đó là lý do tại sao phòng tránh đề kháng insulin và tiểu đường là điều quan trọng. Béo phì và ít vận động là các yếu tố nguy cơ quan trọng trong đề kháng insulin, tiểu đường và bệnh tim mạch.
Tiểu đường được điều trị ra sao?
Khi phát hiện ra tiểu đường, bác sĩ có thể khuyên thay đổi thói quen ăn uống, kiểm soát cân nặng và các chương trình tập luyện và thậm chí dùng các thuốc kiểm soát. Điều then chốt là bệnh nhân tiểu đường nên đi khám đều đặn thường xuyên. Hợp tác chặt chẽ với nơi bạn đến khám để kiểm soát tiểu đường và hạn chế bất kỳ yếu tố nguy cơ nào khác. Chẳng hạn, huyết áp ở bệnh nhân tiểu đường kèm cao huyết áp nên thấp dưới mức 130/80 mm Hg.
Khuyến cáo của AHA
Tiểu đường là yếu tố nguy cơ chủ yếu của đột quỵ và bệnh mạch vành, kể cả đau tim. Bệnh nhân tiểu đường có thể tránh hay làm chậm tiến triển bệnh tim mạch bằng cách kiểm soát các yếu tố nguy cơ khác. Điều đặc biệt quan trọng là kiểm soát cân nặng và nồng độ cholesterol máu bằng chế độ ăn hạn chế cholesterol và chất béo bão hòa và hoạt động thể chất có hít thở sâu thường xuyên. Hạ huyết áp và bỏ thuốc lá cũng là một điều quan trọng.
Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn (DR)
Phóng viên Thanh Hà (RFI) phỏng vấn giáo sư Nguyễn Văn Tuấn, thuộc trường đại học Y khoa Garvan, tại Sydney, Úc. Ông là một trong những tác giả của một bài nghiên cứu về bệnh tiểu đường tại Việt Nam vừa được đăng trên tạp chí y học Diabetologia.
Theo công trình nghiên cứu mới nhất về bệnh tiểu đường tại Việt Nam, chỉ riêng khu vực hành phố Hồ Chí Minh, có hơn 350.000 cư dân mắc bệnh nhưng chưa được phát hiện. Các tác giả bài nghiên cứu đề nghị một phương pháp tiên lượng mới, phù hợp với một nước nghèo còn thiếu phương tiện như Việt Nam.
" Ngày xưa êm giọng ru bà Tiếng đàn, tiếng hát đem ra khoe tài Bây giờ giở hết ngón bài Ru cháu ba đứa, bà hài lòng chưa ? "
Đời người dãi nắng, dầm mưa Tiềng ru hết tối lại trưa : lạc lời À ơi, rồi đến ầu ơi Lời ru bạc tóc một thời đam mê Giờ đây quên cả đường về Một triền đê với trăng thế năm xưa " Cái ngủ mày ngủ hay chưa ? Bà đi đón cháu, chiều mưa sắp về ... " Tiếng ru sao thật não nề Lời ông ru cháu, tràn trề sầu thu ...
Giọng ông đọng ánh trăng lu Trọn đời tròn một lời ru : Kiếp người !
Em có biết khi đêm đen trùm xuống Vạn vật ngủ yên trái đất im lìm Chỉ riêng anh vẫn nao nức con tim Với ảnh hình em buổi đầu gặp gỡ ...
Đôi mắt nâu dịu hiền rộng mở Em nói gì qua ánh mắt nhìn anh ? Đôi mắt ấy nhiều lần gặp lại Nhưng chỉ một lần anh đã nhìn lâu Lặng lẽ phút giây, em bẽn lẽn cúi đầu Từ buổi ấy ai ngờ thành xa mãi ...
"Đường song song " có bao giờ chập lại ? Anh và em đã khác tuyến đường ! Tháng năm qua bước chân đi vững chãi Ngoảnh lại nhìn em - anh thấy xót thương !