Thứ Bảy, 20 tháng 3, 2010

Tiếu Ngạo Giang Hồ ( Kim Dung ) - Phần 2 (Tập 41 - 80)



Kỳ trước , đã giới thiệu đến các bạn 40 tập đầu của audio truyện kiếm hiệp Tiếu Ngạo Giang Hồ , kỳ này , tiếp tục giới thiệu 40 tập tiếp theo . Trước khi nghe tiếp các tập tiếp theo của bộ truyện , mời các bạn xem clip giới thiệu về nội dung truyện này và bài hát Tiếu Ngạo Giang Hồ nổi tiếng qua giọng hát của ca sĩ Cẩm Ly ...

Theo bộ truyện Tiếu Ngạo Giang Hồ của tiểu thuyết gia Kim Dung , tiêu cầm khúc Tiếu Ngạo Giang Hồ được khởi nguồn từ Lưu Chính Phong - là sư đệ của chưởng môn nhân phái Hành Sơn Mạc Đại tiên sinh, là một cao thủ kiếm thuật đồng thời là một nghệ sĩ thổi tiêu. Ông kết bạn với Khúc Dương, trưởng lão Nhật Nguyệt thần giáo vì cùng niềm đam mê âm nhạc, cả hai cùng sáng tác khúc Tiếu ngạo giang hồ, là bản nhạc xuyên suốt tác phẩm. Lưu Chính Phong xuất hiện rất ngắn nhưng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra các tình tiết chính của tác phẩm.

Truyền thống của môn phái Hành Sơn là các cao thủ đều là những người mê âm nhạc nên cả hai anh em cũng đều là những nghệ sĩ. Khác với sư huynh của mình là Mạc Đại luôn xuất hiện với bộ dạng một ông lão rách rưới, lang thang khất thực, Lưu Chính Phong lại là một điền chủ giàu có, nhà cao cửa rộng. Theo lời kể của khách giang hồ, Lưu Chính Phong nổi danh với đường Hồi phong lạc nhạn kiếm, một đường kiếm chém đứt cổ 3 con nhạn lớn. Và trong cuộc chiến với các cao thủ phái Tung Sơn ở cuộc rút lui giang hồ của ông, Lưu Chính Phong cũng chứng tỏ trình độ võ thuật siêu đẳng khi một chiêu bắt sống cao thủ Tung Sơn để khống chế các cao thủ khác rút lui.

Lưu Chính Phong - đại diện cho chính phái, đã gặp Khúc Dương, trưởng lão "Ma giáo", - đại diện cho tà phái (theo quan niệm giang hồ khi đó), hai tâm hồn đã gặp nhau ở tấm lòng khoáng đạt, nhân hậu, yêu âm nhạc và nhanh tróng trở thành bạn tri kỉ của nhau. Lưu Chính Phong là cao thủ thổi tiêu, Khúc Dương là cao thủ chơi thất huyền cầm. Cả hai đã cùng nhau sáng tác khúc Tiếu ngạo giang hồ bi tráng, là bản nhạc cầm tiêu hợp tấu tuyệt đỉnh. Bản nhạc vừa mô tả những đâm chém đau thương trên giang hồ, nhưng cũng lại mang tấm lòng khoáng đạt của những con người yêu tự do và mong ước hòa bình cho giang hồ.

Theo phiên bản cũ trước khi Kim Dung sửa đổi, Khúc Dương và Lưu Chính Phong đã đi đào các ngôi mộ cổ để tìm khúc Quảng lăng của Kê Khang (nhạc sĩ cuối đời Tam Quốc) đã bị thất truyền, sau đó dựa trên trên khúc phổ này để sáng tác nên khúc Tiếu ngạo giang hồ tuyệt đỉnh. Có thể nói khúc Tiếu ngạo giang hồ là một bản hùng ca, ca ngợi tự do và mong ước hòa bình cho giang hồ.

Chỉ có ba người được chứng kiến hai người lần cuối cùng cầm tiêu hợp tấu bản nhạc này là Lệnh Hồ Xung, Nghi Lâm và Khúc Yên Phi, cháu gái Khúc Dương trước khi hai người qua đời trên núi Hành Sơn.



Sau đây là 40 tập tiếp theo ,từ tập 41 đến tập 80 của bộ truyện Tiếu Ngạo Giang Hồ.

Tieu Ngao Giang Ho 041 - Kim Dung.mp3
Tieu Ngao Giang Ho 042 - Kim Dung.mp3
Tieu Ngao Giang Ho 043 - Kim Dung.mp3
Tieu Ngao Giang Ho 044 - Kim Dung.mp3
Tieu Ngao Giang Ho 045 - Kim Dung.mp3
Tieu Ngao Giang Ho 046 - Kim Dung.mp3
Tieu Ngao Giang Ho 047 - Kim Dung.mp3
Tieu Ngao Giang Ho 048 - Kim Dung.mp3
Tieu Ngao Giang Ho 049 - Kim Dung.mp3
Tieu Ngao Giang Ho 050 - Kim Dung.mp3
Tieu Ngao Giang Ho 051 - Kim Dung.mp3
Tieu Ngao Giang Ho 052 - Kim Dung.mp3
Tieu Ngao Giang Ho 053 - Kim Dung.mp3
Tieu Ngao Giang Ho 054 - Kim Dung.mp3
Tieu Ngao Giang Ho 055 - Kim Dung.mp3
Tieu Ngao Giang Ho 056 - Kim Dung.mp3
Tieu Ngao Giang Ho 057 - Kim Dung.mp3
Tieu Ngao Giang Ho 058 - Kim Dung.mp3
Tieu Ngao Giang Ho 059 - Kim Dung.mp3
Tieu Ngao Giang Ho 060 - Kim Dung.mp3
Tieu Ngao Giang Ho 061 - Kim Dung.mp3
Tieu Ngao Giang Ho 062 - Kim Dung.mp3
Tieu Ngao Giang Ho 063 - Kim Dung.mp3
Tieu Ngao Giang Ho 064 - Kim Dung.mp3
Tieu Ngao Giang Ho 065 - Kim Dung.mp3
Tieu Ngao Giang Ho 066 - Kim Dung.mp3
Tieu Ngao Giang Ho 067 - Kim Dung.mp3
Tieu Ngao Giang Ho 068 - Kim Dung.mp3
Tieu Ngao Giang Ho 069 - Kim Dung.mp3
Tieu Ngao Giang Ho 070 - Kim Dung.mp3
Tieu Ngao Giang Ho 071 - Kim Dung.mp3
Tieu Ngao Giang Ho 072 - Kim Dung.mp3
Tieu Ngao Giang Ho 073 - Kim Dung.mp3
Tieu Ngao Giang Ho 074 - Kim Dung.mp3
Tieu Ngao Giang Ho 075 - Kim Dung.mp3
Tieu Ngao Giang Ho 076 - Kim Dung.mp3
Tieu Ngao Giang Ho 077 - Kim Dung.mp3
Tieu Ngao Giang Ho 078 - Kim Dung.mp3
Tieu Ngao Giang Ho 079 - Kim Dung.mp3
Tieu Ngao Giang Ho 080 - Kim Dung.mp3

Thứ Sáu, 19 tháng 3, 2010

Biến ươc mơ thành hiện thực



Tác giả : Pamala Oslie
Người đọc: Ái Hòa - Minh Trung
NXB: NXB Trẻ

Biến ước mớ thành hiện thực được biên dịch từ sách tiếng Anh Make your dreams come true của tác giả Pamala Oslie. Sách sẽ giúp bạn đi tìm niềm tin cho mình và ảnh hưởng của niềm tin ấy đối với cuộc sống hiện tại.

Khả năng sáng tạo của con người là vô hạn, chúng ta hoàn toàn có thể tạo nên những trải nghiệm cho chính mình bằng sức mạnh niềm tin, của suy nghĩ và cảm xúc. Chúng ta có thể lựa chọn niềm tin và từ đó làm thay đổi thực tế cuộc sống của mình, tạo nên tất cả những gì mà mình hằng mơ ước.

Tài sản của chúng ta là sự tự do ý chí. Nếu chúng ta tự trói buộc mình trong những giới hạn tinh thần như sự thiếu tự tin, nỗi lo sợ.... thì chắc chắn chúng ta sẽ gặp phải những rào cản trong cuộc sống. Nhưng nếu tin rằng khả năng con người là vô hạn, thì khi ấy, những chân trời mới sẽ mở ra....

Mọi điều trong cuộc sống đều xuất phát từ bản thân mỗi người, chính chúng ta tự tạo nên trải nghiệm và khám phá những hiểu biết về cuộc sống. Có thể quan niệm này ban đầu khiến ta sợ hãi và bối rối, nhưng cảm giác đó sẽ mất đi khi ta khám phá được sức mạnh thật sự của tự do - một sức mạnh có thể giúp ta thay đổi và làm chủ cuộc đời mình.

Cuốn sách này là nhằm giúp bạn đi tìm niềm tin cho mình và khám phá ảnh hưởng của niềm tin ấy đối với cuộc đời của bạn. Bạn sẽ học được cách loại bỏ những niềm tin tiêu cực được hình thành từ nỗi sợ hãi, tự ti bởi đó chính là nguyên nhân tạo nên những khó khăn, bất lợi cho cuộc sống. Khi đã loại bỏ được niềm tin tiêu cực thì bạn có thể tạo dựng được một cuộc sống như bạn hằng mơ ước - một cuộc sống tràn ngập tiếng cười và những điều kỳ diệu

1/ Lời giới thiệu


[Download]

2/ Chương I: Sức mạnh của niềm tin


[Download]

3/ Thực tế hay chân lý


[Download]

4/ Chương II: Khám phá niềm tin


[Download]

5/ Các trò chơi và phương pháp


[Download]

6/ Chương III: Thay đổi niềm tin


[Download]

7/ Những niềm tin tiêu cực


[Download]

8/ Chương IV: Tạo dựng cuộc sống trên cơ sở niềm tin mới


[Download]

Thứ Năm, 18 tháng 3, 2010

Thuyết giảng Phật giáo : "Thuật sống hạnh phúc"



Đức Dalai Lama giảng về nghệ thuật sống hạnh phúc

Trong bài thuyết giảng “Nghệ thuật sống hạnh phúc” tại Spain , đức Dalai Lama luôn đề cập đến những giá trị nội tại để trưởng dưỡng đạo tâm, nuôi dưỡng hạnh phúc và trở thành con người hiểu biết hơn. Ngài cho rằng chẳng có năng lực siêu nhiên nào để cứu giúp mọi người thoát khỏi khổ đau như một số học thuyết khác thường trình bày. Ngược lại ngài luôn nhấn mạnh sự bình yên của nội tại thông qua phương pháp thực tập, thiền định. Ngài nói mục đích chính của cuộc đời là hạnh phúc, duy trì hạnh phúc. Tất cả chúng hữu tình ước muốn hạnh phúc, muốn vượt qua khổ đau và muốn có quyền để làm như thế.”

Đức Dalai Lama đã chia khổ đau ra thành hai cung bậc: “khổ đau về vật chất và tinh thần. Nhưng con người thường có khổ đau về tinh thần nhiều hơn. Trong hai cung bậc đó, mức độ tinh thần quan trọng hơn. Bất hạnh về tinh thần không thể làm vơi đi bằng sự an ủi của vật chất mà ngược lại những khó khăn về vật chất có thể được xoa dịu nhờ có hạnh phúc của tinh thần.” Tiếp đến ngài cho rằng những vấn đề xảy ra ở tinh thần như căng thẳng, lo âu, tức giận, căm hờn sẽ tạo cho tâm hồn chúng ta khổ đau. Vì thế chúng ta phải nhận ra chúng để chuyển hóa thành hạnh phúc thông qua sự kiểm soát của chính mình.

Sau thời thuyết pháp có rất nhiều câu hỏi được đặt ra từ những khái niệm về thượng đế, khoa học, Phật giáo cho đến vấn đề hòa bình của thế giới… Thính chúng nơi đây đã nhận chân được nghệ thuật sống hạnh phúc trong tinh thần Phật giáo một cách chính xác hơn. Cuối cùng ngài nhấn mạnh việc phát huy sự hòa hợp giữa các tôn giáo, kêu gọi mọi người luôn cảm thông tha thứ cho nhau và tôn trọng các niềm tin lẫn nhau.

Đại Đức Thích Nhật Từ giảng về Thuật sống hạnh phúc

Mời các bạn lắng nghe ĐĐ. Thích Nhật Từ giảng tại chùa Xá Lợi

Thứ Hai, 15 tháng 3, 2010

Điểm tin tuần (08/03/2010 – 14/03/2010)

Kinh tế

Văn hóa giáo dục

Thứ Năm, 11 tháng 3, 2010

Bé Vũ Hoàng Duy biểu diển văn nghệ Xuân Canh Dần 2010

Xin giới thiệu đến các bạn lớp 6K9 một số hình ảnh và clip ca nhạc thiếu nhi "Mừng Xuân Canh Dần 2010" của các bé nhỏ ở Trường Mầm Non Lan Anh , nơi cháu Vũ Hoàng Duy đang theo học lớp lá . Mời các bạn cùng xem nhé !


Hoàng Duy trước khi biểu diễn văn nghệ


Hoàng Duy và cô Liên trước khi biểu diễn


Hoàng Duy và các bạn biểu diễn văn nghệ


Hoàng Duy ... lỡ mất một nhịp !


Múa thì đều nhưng ... người thì không cân xứng !


Mời xem toàn bộ anbum Hoàng Duy biểu diễn văn nghệ vui đón Xuân Canh Dần 2010



Và sau đây là clip ca nhạc Mừng Xuân Canh Dần 2010 của các cháu nhỏ mầm non , riêng cháu Vũ Hoàng Duy thì biểu diễn bài dân ca "Trống Cơm" ở clip phần 2 . Mời các bạn cùng xem !

Phần 1


Phần 2


Phần 3

Thứ Tư, 10 tháng 3, 2010

Tử vi Canh Dần 2010



Năm Canh Dần, năm con Hổ trắng, được các chiêm tinh gia Châu Á xem là một năm khá đặc biệt, ẩn chứa nhiều biến động. Nhà nghiên cưú tử vi Trần Liêm giải thích đây là do "can" "chi " xung khắc.

Đầu năm, người ta vẫn có thói quen chiêm nghiệm dự báo vận niên của năm đó hay muốn biết về vận hạn sắp tới của chính mình. Người phương Đông có một thuật đoán là Tử vi đẩu số, có nguồn gốc xuất phát từ Trung Quốc từ cách đây hơn một nghìn năm, có thể giải đáp phần nào cái thói quen có phần hơi tò mò đó của con người. Giờ đây ngày càng có đông người tin vào độ chính xác của các luận giải của Tử vi về vận mệnh, số phận của con người. Tử vi cũng đang được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu tìm hiểu kỹ lưỡng hơn bởi cơ sở lý luận và phương pháp dẫn giải của nó dường như rất khoa học.

Tử vi là một dạng thức khoa học hay chỉ là một hình thức bói toán mê tín dị đoan ? Vấn đề này vẫn còn đang gây tranh cãi. Nhưng dù sao đi nữa với tính chất khoa học thần bí của mình, Tử vi vẫn thuyết phục được ngày càng đông người.

Là những ngày đầu tiên của năm Canh Dần 2010, năm con Hổ trắng, năm khá đặc biệt bởi can Canh và chi Dần, chúng tôi mời quý vị cùng tiếp cận với môn Tử vi qua phần trao đổi với ông Trần Liêm tại Hà Nội, một người đã nghiên cứu Tử vi từ 50 năm nay.

Phỏng vấn nhà nghiên cứu tử vi Trần Liêm tại Hà Nội



RFI : Xin chào ông Trần Liêm, được biết ông là một người nghiên cứu lâu năm và rất am tường về Tử vi, tướng số. Trước hết xin hỏi ông qua nghiên cứu, thì theo ông liệu có thể coi Tử vi là một khoa học dự báo ?

Ông Trần Liêm : Tử vi là một khoa học có nguồn gốc từ triết học cổ phương Đông, nó có nền tảng là những học thuyết cơ bản là thuyết âm dương ngũ hành, bát quái, mà từ đó người ta khai triển ra. Tử vi cũng chỉ là một trong những khoa học dự đoán dự báo thôi, nhưng cái nền tảng của nó cơ bản là thuộc triết học cổ phương Đông.

Trước đây người ta vẫn quan niệm là tử vi có phần nào đó là mê tín, rồi là bói toán này khác, nhưng thực chất là nó có nền tảng khoa học. Sau một thời gian nghiên cứu chúng tôi thấy là, mỗi con người ta sinh ra nói là nó có số mệnh nhưng thực chất mà nói thì theo quan niệm chúng tôi, nghiên cứu gần đây thì chúng tôi thấy nó cũng là cách mã hóa.

Để lập được một lá số tử vi phải có 5 yếu tố rất cần thiết, như là cái khóa mã, tức là giờ sinh, ngày sinh, tháng sinh, năm sinh và giới tính của con người. Theo quan nệm của cổ nhân thì con người ta là một tiểu vũ trụ. Khi anh lọt lòng mẹ sinh ra thì anh chịu tác động của cái đại vũ trụ. Nó mã hóa con người anh theo một sơ đồ nhất định. Bởi vì để lập được một lá số tử vi thì phải theo một cái thuật toán rất là nghiêm ngặt, vì nếu anh áp dụng sai thì sẽ ra lá số của người khác. Trong tử vi người ta nói không phải là một ly đi một dặm mà, nếu sai một trong 5 yếu tố khác thì nó là tử vi của người khác, và sai tất cả.

Thực sự người xưa đã nghiên cứu, đúc kết được trong 113 ngôi sao Tử vi. Chẳng qua đó là những khái niệm mà ngày nay ta có thể nói theo học thuyết mã thông tin thì mỗi ngôi sao trong Tử vi nó tương ứng với rất nhiều thông tin. Vậy thì nó nằm ở cái lĩnh vực nào của đời người ?

Tử vi chia ra 12 lĩnh vực quan trọng nhất của đời người : Bệnh, chỉ con người mình, Mẫu là phụ mẫu chỉ bố mẹ, Phúc là phúc đức của dòng họ, Điền là đất cát nhà cửa, Quan là nói về nghề nghiệp, đường công danh làm ăn, Nô là nói về các đối tượng ngoài xã hội có quan hệ với mình gồm có bạn bè, nhân viên của mình, đối tác làm ăn. Di là nói con người của mình khi đi ra khoài xã hội, sự vận động của mình ở ngoài xã hội, Ách tức là nói về những tật ách của mình, những bệnh tật cơ bản trong quá trình cuộc đời mình sẽ mắc phải, Tài nói về lĩnh vực tiền bạc tài chính, Tử nói về tử tức con cái của mình, rồi Thê là nói về đối tượng hôn nhân, người vợ hoặc chồng của mình, Bào nói về tình anh em. Người ta chia ra 12 cung như vậymỗi một ngôi sao nó nằm ở vị trí nào thì nó phản ảnh một loạt các thông tin.

Vấn đề là thứ nhất anh phải lập được Tử vi của mình sao cho chính xác, sau đó tập hợp các thông tin và tuân thủ cách giải. Trong cách giải thì bản thân từng sao một có một hàm số thông tin rất là lớn, thế nhưng nó lại đi với sao nào, nó bị những sao nào phối chiếu, bị những sao nào tác động vào nữa. Người ta phải cân đong đo đếm thế nào đó để cho ra được cái giải pháp tương đối nhất.

Thông thường chúng tôi thấy, lập một lá số tử vi đã khó rồi, tức là phải lập theo đúng các thuật toán, theo các quy tắc nhất định, thế nhưng vấn đề giải tử vi thì nó rất nan giải. Nói như vậy để thấy rằng, tử vi nó là một khoa học chứ không phải là một lĩnh vực thần quyền mê tín dị đoan, chỉ có điều là mình khai thác nó như thế nào.

RFI : Áp dụng vào cụ thể, dựa trên các luận thuyết của Tử vi thì năm Canh Dần 2010 này có nói lên được điều gì đặc biệt không, thưa ông ?

Ông Trần Liêm : Nói về năm canh Dần, thì năm nay trong Ngũ hành năm canh Dần thuộc hành Mộc và xét trên góc độ bát quái thì năm nay thuộc vị trí cung Cấn, thiên về hướng Đông Bắc. Nếu mà nói về phương hướng vận động của con người ta theo kiểu cung Lạc thư thì cái hướng sinh khí của năm Canh Dần này thuộc về hướng Tây – Nam, hướng Thiên y thuộc hướng Tây Bắc, hướng Phúc đức thuộc hướng Tây, hướng Phục vị về Đông Bắc. Năm nay hợp những người mệnh Hỏa, mệnh Mộc, khắc với người mệnh Thổ, còn mệnh Kim thì bình, mệnh Thủy thì hao.

Theo Ngũ hành phương Đông tính chất của năm Canh Dần là như vậy. Xét trên thiên can địa chi thì năm Canh Dần thì can Kim khắc chi Mộc, Canh thuộc kim Dần thuộc mộc. Nếu theo cổ nhân xưa thì người ta quan niệm năm nay là năm thiên khắc địa xung, có bất lợi về nhiều mặt về thời tiết thời vụ nhất là làm ăn trong nông nghiệp cũng như là làm ăn công việc, rồi kể cả về dịch bệnh. Thế cho nên năm nay, nếu xét về góc độ theo triết học cổ phương Đông thì là một trong những năm chứa đựng nhiều yếu tốc bất lợi cho cuộc sống con người.

Tuy vậy trong vũ trụ luôn luôn xoay vần. Con người mình cũng là một tiểu vũ trụ thì cũng chịu ảnh hưởng của cả một đại vũ trụ, nếu nói rộng ra nữa là cả thiên hà rồi hệ mặt trời , trái đất, nơi mà loài người đang sinh sống. Vì thế cho nên con người cũng chịu tác động của nhiều yếu tố của vũ trụ. Người ta vẫn thường quan niệm năm Canh Dần là năm bất lợi chính là ở chỗ giữa thiên can và địa chi theo ngũ hành là tương khắc với nhau.

RFI : Đó là về phương diện vận động của trời đất, vũ trụ, còn đối tượng cụ thể là con người. Trong dân gian, người ta vẫn hay so sánh đối chứng xung, hợp giữa các tuổi dựa trên các con giáp, hay như người ta vẫn nói nữ tuổi Dần thường là cao số, mà lại đứng chữ Canh nữa thì càng khó. Vậy lý thuyết Tử vi có giải thích được điều này ?

Ông Trần Liêm : Ta thường nói tứ hành xung, nhưng thực chất nó chỉ xung theo từng cặp. Có 6 cặp xung nhau, ví dụ như năm nay năm Dần thì những người tuổi Thân bị khắc nhất. Dần –Thân, Tỵ với Hợi, Tỵ với Thân hay là Dần với Hợi chỉ xung có mức độ, nó chỉ nằm trong bộ mà người ta gọi là tứ hành xung hay là Thìn chỉ xung với Tuất, Sửu xung với Mùi, Tý xung với Ngọ, Mão xung với Dậu, chứ nó không phải xung cả bốn cặp với nhau.

Theo dân gian người ta quan niệm rằng năm Canh Dần đối với người đàn ông dù sao nó cũng hợp hơn vì Canh cũng là dương, Dần cũng là chi dương, thế cho nên hợp với đàn ông, hoạt động mạnh mẽ, làm ăn quyết đoán nhưng nó không hợp với người đàn bà ở cái chỗ, tính cách này là tính cách của người nam giới. Thế còn trong dân gian lâu nay người ta cũng tổng kết, Canh thì Cô. Người ta cũng tổng kết 10 cái can chi : Giáp biến vi điền, Ất biến vi vong thế rồi Quý biến vi du… mỗi tuổi có một cái đặc trưng của nó, vì thế cho nên những người phụ nữ sinh vào năm Dần này, tất nhiên không phải tất cả những người phụ nữ sinh vào năm Dần đều có đặc tính đó, nhưng cái tỷ lệ qua thống kê nhiều năm, nhiều đời, người ta đúc kết lại thì người ta thấy thường thì người nữ tuổi Canh Dần đều khó khăn ở chữ Cô đó, có thể khó khăn về đường hôn nhân gia đình hay về đường con cái hay trong làm ăn không thuận lắm. Nhưng mà chủ yếu là năm Canh Dần đối với phụ nữ là khó khăn về mặt gia đạo. Vì như tôi đã nói năm đó can chi xung nhau nên ngay cả đàn ông mạnh mẽ quyết đoán đấy nhưng cũng không phải có thuận lợi trong đường đời.

RFI : Ông đánh giá thế nào về độ tin cậy trong những dự báo suy đoán, luận giải của Tử vi.

Ông Trần Liêm : Qua nghiên cứu, chúng tôi cố gắng đưa các kiến thức của thời đại vào, tức là dùng thuật toán để lập và dùng thuật toán để giải thì thấy nó đưa ra các đáp số khả dĩ hơn. Nếu như điều kiện 5 yếu tố : giờ, ngày, tháng năm và giới tính chính xác rồi thì nó cũng hoạch định lên được khoảng 70% những nét cơ bản về một con người và đời người. Quan tâm nhất của chúng tôi có hai cái : là năm và giờ. Đây là hai cái nó quyết định, bởi vì qua nghiên cứu chúng tôi thấy hai yếu tố đó chi phối cách lập tử vi tới 80%, yếu tố tháng với ngày chỉ góp vào khoảng 20% những số sao và các quy tắc trong quá trình giải thôi, nhưng mà cũng không thể bỏ được, vì sai tháng đi cũng sẽ là lá số của người khác, sai ngày cũng là lá số của người khác rồi.

Nhưng mà chúng tôi cũng thấy, Tử vi cũng có nhược điểm của nó, bởi vì theo tính toán của chúng tôi, chỉ có hơn một triệu lá số cho tất cả loài người. Thế mà loài người hiện nay nếu nói riêng phương Đông cũng khoảng vài ba tỷ người. Riêng người Việt Nam ở trong nước cũng đã trên tám chục triệu rồi. Chỉ có hơn một triệu lá số như thế thì rõ ràng cái sự trùng lặp rất nhiều vì thế cho nên phải tùy theo tính thời đại của từng giai đoạn lịch sử cũng như từng vùng, từng xã hội mà con người đó cư trú mới có thể đưa ra những giải đoán nó phù hợp.

Cũng một cái lá số như nhau nhưng mà người sống, ngay ở Việt Nam này thôi, người sống ở thủ đô Hà Nội, ở Thành phố Hồ Chí Minh chẳng hạn, nó khác với mức độ của những người sống ở vùng sâu vùng xa, nó lại càng khác lá số của những người Việt Nam cư trú ở nước ngoài. Vì thế khi lượng định để giải đoán thì con người ta cũng phải có một cái kiến thức tổng hợp về mặt xã hội để nhìn nhận, tức là anh phải nhìn nhận tính chất của từng giai đoạn lịch sử, cái trình độ chung của xã hội loại người và thứ hai anh phải nhìn nhận cái môi trường con người đó sống tức là hoàn cảnh xã hội để mà anh đưa ra cái luận định cho nó tương đối chính xác. Chứ còn nếu như theo các sách cổ mà đoán, không cập nhật tình hình cụ thể của xã hội mà con người đó đang sống thì tôi nói là không thể nào đưa ra cái giải đoán tương đối đúng được.

Người ta cũng nêu nhiều phương án giải tử vi. Chúng tôi gọi đó là có phương trình nhưng đa nghiệm. Cũng hình thái sao nó bố trí như thế người ta có thể đưa ra hàng chục cái giải pháp khác nhau. Đấy là mặt hạn chế của Tử vi, thứ hai nữa là trong Tử vi có nhiều cái phải công nhận lắm. Nhiều cái chưa chứng minh được. Trong toán học cũng còn nhiều cái luận đề phải công nhận như là Pythagore, Euclidet chẳng hạn, thế thì làm sao mà Tử vi đòi có thể chứng minh được mọi cái.

Tôi nghiên cứu thì thấy trong đó có nhiều cái mang tính chất định đề như định lý mà mình phải công nhận thì mới có thể giải quyết được. Từ đâu có các định lý đó thì cái gốc của nó phải là âm dương ngũ hành và bát quái để luận giải được. Cách giải của Tử vi chủ yếu bằng sinh khắc của ngũ hành và bằng thuyết âm dương và bằng quy luật của bát quái của Kinh dịch.

Con người ta nói như cụ Nguyễn Du, xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều thế cho nên vấn đề mình xem để biết ưu điểm của mình là gì, nhược điểm của mình là gì để mình có tu dưỡng rèn luyện. Không thể nào quan niệm con người ta có số rồi thì cứ ngồi đấy mà tọa hưởng kỳ thành, đấy là một quan niệm sai lầm. Cũng là ta chiêm nghiệm, cuộc đời nó có tốt có xấu, có khó khăn có thuận lợi, nhưng mình cố gắng làm sao, về bản thân, tu dưỡng rèn luyện, phát uy ưu điểm của mình, khắc phục điểm yếu, chọn thời cơ tốt, tránh thời cơ xấu để hoạt động, thành đạt. Người ta nói đức năng thắng số, có lẽ là như vậy.

RFI : Xin Cảm ơn ông Trần Liêm đã dành cho chúng tôi cuộc trao đổi đầu năm rất thú vị về đề tài không kém phần huyền bí này.

Thứ Ba, 9 tháng 3, 2010

Tam thập lục kế trong Tôn Tử Binh Pháp




1. Dương đông kích tây (Đánh lạc hướng đối phương)

Kế "Dương đông kích tây" là reo hò giả vờ như thật sự đánh vào phía đông, nhưng chủ yếu lại đánh vào phía tâỵ
Trong tất cả mọi vấn đề của xã hội, từ chiến trường, thương trường, chính trường cho đến tình trường; nếu muốn điều này nhưng lại giả làm điều kia, nói điều này mà làm điều nọ, ấy là "Dương đông kích tây" vậỵ
Kế này mờ ảo vô song. Nó rất khó biết, khó đoán, bị đánh bất ngờ. Kế này nhằm chuyển mục tiêu để lừa dối đối phương, khiến cho địch sơ ý, lừa lúc bất ý tấn công kẻ không chuẩn bị.
Có nhiều cách thức để thực hiện kế này, như:
- Tạo tin đồn. - Làm rối tai rối mắt địch. - Buộc đối phương lo nhiều mặt. - Mê hoặc ý chí của địch. - Nghi binh. - Làm phân tán lực lượng đối phương. - Làm yếu lực lượng đối phương, lực lượng phòng vệ địch.
Nguyên tắc của " Dương đông kích tây" là bí mật và chủ động. Bị động coi như phải chịu sự khống chế của địch.
Điều kỵ khi dùng kế " Dương đông kích tây" là để lộ cơ.
Lộ cơ là mất hết khả năng phòng bị, chuẩn bị. Dù là trên chiến trường, thương trường hay chính trường cũng đều phải giữ bí mật và nắm được thế chủ động.

2. Điệu hổ ly sơn (Dụ hổ ra khỏi rừng)

Kế "Điệu hổ ly sơn" là nhử, dụ hay khuấy động làm cho con hổ ra khỏi rừng.
Kế "Điệu hổ ly sơn" có hai lối: Một là nhử hổ ra khỏi rừng để dễ dàng giết hổ. Hai là đuổi hổ đi để dễ bắt giết những loại hồ ly vẫn dựa oai hổ mà hoành hành.

3. Nhất tiễn hạ song điêu (Một mũi tên hạ hai con chim)

Kế "Nhất tiễn song điêu" là dùng một mũi tên bắn chết hai con chim.
Ý của mưu kế này là dùng sức lực tối thiểu để đạt đến hiệu quả tối đa.

4. Minh tri cố muội (Biết rõ mà làm như không biết)

Kế "Minh tri cố muội" là biết thật rõ chuyện đấy, nhưng làm ra vẻ không biết gì.
Với người xưa, đây là một triết lý xử thế rất cao, mục đích lại ẩn trốn tất cả những tiếng thị phi nghi hoặc, nhưng theo nghĩa mưu kế, nó là một thái độ thâm sâu.
Cái đức của người quân tử không thể không cho thiên hạ biết, nhưng cái mưu kế của trượng phu không thể không giấu thiên hạ.
Tóm lại, biết rất nhiều mà tỏ ra không biết một là kế "Minh tri cố muội" vậy.

5. Du long chuyển phượng (Biến rồng thành phượng)

Kế "Du long chuyển phượng" là biến cái này thành cái kia, bên trong là hình rồng đó, nhưng làm cho nó trở thành phượng.
Cái kế này rất phổ biến, trong dân gian ta gọi là "Treo đầu dê, bán thịt chó".

6. Mỹ nhân kế (Kế dùng gái đẹp)

"Mỹ nhân kế" là dùng gái đẹp để làm xoay chuyển, thay đổi tình thế mà những cái khác không thể thực hiện được.
Giai nhân từ ngàn xưa đến nay bao giờ cũng là đề tài chính. Tuy là phái yếu, không thể vác gươm đao mà đánh giặc, nhưng các nàng có thể thắng được bằng đôi mắt biếc và nụ cười xinh đẹp.
Có những bức thành kiên cố cả mười vạn quân không hạ nổi, nhưng nó có thể bị sụp đổ bởi ánh mắt mỹ nhân.
Sức mạnh của mỹ nhân đặc biệt là có ảnh hưởng đối với người anh hùng, người có quyền thế.

7. Sấn hỏa đả kiếp (Theo lửa mà hành động)

Kế "Sấn hỏa đả kiếp" là lợi dụng lúc loạn để thao túng, lúc tình hình rối ren mà sắp xếp theo ý muốn.
Có hai loại "Sấn hỏa đả kiếp": Một là theo lửa để mà đánh cướp. Hai là chính ta phóng hỏa mà đánh cướp.
Theo lửa tức là thừa lúc người ở trong cơn nguy biến mà ta quấy hỗn loạn thêm.
Phóng hỏa tức là chính ta gây ra sự hỗn loạn mà thực hiện theo ý muốn của ta.
Theo lửa hay phóng hỏa cùng đi chung vào một mục đích là đánh địch và đoạt của địch để tạo cơ hội cho ta.
Theo lửa thì dựa vào thời cơ sẵn có.
Phóng hỏa thì tự ta tạo ra thời cơ.
Không thể phê phán theo lửa hay phóng hỏa, cái nào hay, cái nào dở, cái nào tốt, cái nào xấu, vì cả hai giống như một sự biến ảo giữa không khí và nước.
Trong sử sách, người ta thấy tay phóng hỏa giỏi là Trương Nghi. Một mình Trương Nghi đã phá tan thế hợp tung bằng cách dối Tề, lừa Triệu, dọa Ngụy, thuyết Yên, bịp Sở.
Trương Nghi thật là con người có cái lưỡi bằng lửa thiêu đốt cả sáu nước, dựng thành cơ nghiệp thống nhất cho nhà Tần.
Khổng Minh tuy là một nhà chính trị lỗi lạc tài tình, nhưng cái thế của ông ngay từ đầu chỉ là cái thế phải theo lửa để gây vốn: Lưu Bị bị Tào Tháo đánh chạy đến cùng đường, Khổng Minh đành tính kế nương nhờ Tôn Quyền rồi ăn theo cuộc chiến tranh Nam - Bắc, ăn theo trận Xích Bích để cướp Kinh Châu.
"Sấn hỏa đả kiếp" đòi hỏi một khả năng hành động mau lẹ như con ó bắt mồi.

8. Vô trung sinh hữu (Không có mà làm thành có)

Thiên hạ không loạn, trật tự không rối thì làm gì có anh hào xuất lộ! Bởi lẽ đó, những anh hào thường được gọi là kẻ "chọc trời khuấy nước". Mục đích của khuấy nước là làm rối beng sự việc lên để dễ bề thao túng. Thủ đoạn của khuấy nước là gây tiếng tăm, tung tiếng đồn, gây xáo trộn rồi dựa vào đó mà thủ lợi.
Kế "Vô trung sinh hữu" hình dung là tu hú đẻ nhờ, tổ thì chim khác làm, nhưng con tu hú cứ đến đặt trứng của nó vào đó, rồi lại nhờ loài chim khác ấp trứng luôn, khi trứng nở thành chim, tu hú con bay về với bầy tu hú.

9. Tiên phát chế nhân (Ra tay trước để chế phục đối phương)

"Tiên phát chế nhân" là ra tay trước để dành chiếm ưu thế, để đoạt lợi, để bắt lấy sự chiến thắng.
Kế "Tiên phát chế nhân" là không nói quá xa, viễn vông, mà phải nhìn vào thực tế gần nhất.
Các vụ xảy ra trong lịch sử như: Lý Thế Dân tại Huyền Vũ Môn, Võ Tắc Thiên phế lập Lư Lăng Vương, Ung Chính cướp Bảo Tòa, Từ Hi độc sát Quang Tự, Gia Cát Lượng lấy đất Quang Trung... Tất cả đều là áp dụng thủ đoạn "chớp nhoáng" không cho địch kịp trở tay, không cho dư luận phản ứng kịp.
Vẫn có câu "Tiên hạ thủ vi cường" là vậy.

10. Đả thảo kinh xà (Đập cỏ làm cho rắn sợ)

Kế "Đả thảo kinh xà" là đập vào cỏ, làm động cho rắn sợ.

11. Tá đao sát nhân (Mượn đao để giết người)

Kế "Tá đao sát nhân" là mượn dao để giết người, mượn tay người khác để giết kẻ thù của mình.
Ngạn ngữ Trung Quốc có câu: “Sát nhân bất kiến huyết, kiến huyết phi anh hùng”. (Giết người không thấy máu, thấy máu không anh hùng).
Trên đời dĩ nhiên chưa có kẻ nào chỉ giết người mà thành anh hùng, nhưng cũng hiếm có tay anh hùng nào không giết người. Điểm khác nhau không ở có hay không, mà ở chỗ thông minh hay ngu xuẩn. Tào Tháo mượn Lưu Biểu giết Nễ Hành, mượn lòng quân giết Dương Tu rồi lại được làm cái việc mèo già khóc chuột, thật đáng kể là một tay thông minh, gian hùng.

12. Di thể giá họa (Dùng vật gì để vu khống người ta)

Kế "Di thể giá họa" là đem xác chết hay đồ vật gì bỏ vào nhà người khác để giá họa.
Kế này thường được dùng bởi khối óc quỷ quyệt thông minh, tự mình không ra mặt mà làm cho đối phương bị hại. Như vậy gọi là "giết người không thấy máu".

13. Khích tướng kế (Kế chọc giận tướng giặc)

"Khích tướng kế" là kế chọc giận tướng giặc, làm tướng giặc nổi giận. Nổi giận sẽ mất sáng Trong đời có nhiều sự việc được thành tựu bằng một cơn giận và cũng suốt, thiếu suy nghĩ, không tự chủ được con người mình.
Mạnh Tử nói: "Nhất nộ nhi an thiên hạ".
có nhiều việc thất bại bởi một cơn giận.
Bởi vậy cái kế khích tướng cũng là một trong những diệu kế, nếu đạt ra thì kiến thiên hạ, cùng thì mang họa vào thân.
Khích tướng còn là khơi dậy cái hùng khí của người khác để người ấy làm việc cho ta.
Đối tượng tốt nhất của kế khích tướng là những người có tính tình bạo tháo hay sẵn sàng phẫn nộ.
Tuân Tử bảo rằng: “Lời nói khéo êm như lụa, lời nói ác nhọn như giáo mác”.
Thuyết là tiến dẫn lời nói, cái nghĩa căn bản của thuyết làm cho người ta nghe theo. Hiệu quả của thuyết rất lớn. Bởi thế mới có câu: "Thiên hạ tĩnh, nhất ngôn sử chi động. Thiên hạ động, nhất ngôn sử chi tĩnh". (Thiên hạ đang yên lặng, một lời nói làm náo loạn. Thiên hạ đang náo loạn, một lời nói làm lắng dịu).
Căn bản mưu thuật của thuyết, theo Tuân Tử có bốn điều: Cơ, dũng, trí, biến.
- Cơ: Là xem thời độ thế, nhân lợi thuận tiện.
- Dũng: Là quyết đoán nói những điều không ai dám nói.
- Trí: Là biết rõ sự tình, tâm lý, giải quyết được thắc mắc, chế phục được người.
- Biến: Là biến hóa, trong các trường hợp bất trắc.

Mục đích của thuyết có năm điều:
- Làm cho người hiểu rõ.
- Làm cho người tin tưởng.
- Làm cho người đồng tình.
- Làm cho người phục.
- Làm cho người theo.

Đạt được năm mục đích trên thì kể như nắm chắc phần thắng trong tay.

14. Man thiên quá hải (Lợi dụng sương mù để lẩn trốn)

Kế "Man thiên quá hải" là lợi dụng lúc trời sương mù mà lẩn trốn, vượt qua hay hành động ngay trong lúc sương mù.
Man thiên, trời u ám không phải hoàn cảnh hoàn toàn bất lợi như một quẻ trong Dịch lý đã nói. Man thiên, không thể ngồi đợi nó tới như sương mù do thời tiết thiên nhiên, mà phải tạo ra nó.
Kế "Man thiên" đem áp dụng thực hiện được cả hai mặt: tiêu cực lẫn tích cực.
Tích cực là đem ánh sáng đến cho một tình thế mờ mịt.
Tiêu cực là lẩn tránh một tai họa, là lợi dụng cơ hội sơ hở của địch để thoát bí.
Ở trận Xích Bích, Khổng Minh đã giải quyết vấn đề thiếu tên bắn cho các cung thủ bằng cách lấy mười chiếc thuyền lớn chất đầy rơm, đợi lúc trời sương mù, âm thầm đến trại Tào Tháo nổi trống la hét làm như tấn công. Tào sợ ngụy kế, không dám xông ra, chỉ bắn tên như mưa vào các thuyền rơm. Bằng một đêm đánh trống reo hò, không chết một người, Khổng Minh đã lấy được của Tào Tháo cả trăm ngàn mũi tên.

15. Ám độ trần sương (Đi con đường mà không ai nghĩ đến)

Kế "Ám độ trần sương" là bí mật đưa quân qua con đường mà không ai nghĩ rằng ta sẽ đi qua.
Kế này áp dụng giữa lúc hai bên đang đấu tranh, chiến đấu với nhau.
Mỗi bên đều ra sức giấu mục tiêu thật của mình rồi đưa ra mục tiêu giả mà lừa đối phương.
Đây là công việc rất phức tạp, có một quá trình khúc triết. Như "Tôn Tử Binh Pháp" viết: “Việc binh là trá ngụy, có thể mà làm ra vẻ không có thể, dùng đấy mà tỏ ra không dùng, gần giả làm như xa, xa giả làm như gần. Lấy lợi mà dụ, gây rối mà đuổi, thấy khỏe thì tránh. Đầu tiên là làm mọi cách giảm nhược lực đối phương, sau rồi mới tiến hành dự định.
Muốn dụng kế này phải là người có tầm nhìn xa hiểu rộng và một khối óc tuyệt vời.

16. Phản khách vi chủ (Đổi vị khách thành vị chủ)

Kế "Phản khách vi chủ" là đổi địa vị khách thành địa vị chủ.
"Phản khách vi chủ" là trong đấu tranh đang ở vào thế bị động nên phải tìm kế hoạch đến chủ động, khách vốn là địa vị bị chi phối, mọi việc đều do chủ đặt định sắp xếp.
"Phản khách vi chủ" là nguyên tắc thường dùng trong đấu tranh. Có chủ động mới khống chế được cục diện. Không có chủ động, không thể thắng lợi.

17. Kim thiền thoát xác (Ve sầu vàng lột xác)

"Kim thiền thoát xác” là con ve sầu vàng lột xác.
Kế này dùng cho lúc nguy cấp, tính chuyện ngụy trang một hình tượng để lừa dối, che mắt đối phương, đặng đào tẩu chờ một cơ hội khác.
Kế "Kim thiền thoát xác" có một phạm vi rất rộng rãi và phổ biến, bất cứ ai ở hoàn cảnh nào cũng có thể sử dụng được.

18. Không thành kế (Kế bỏ trống cửa thành)

"Không thành kế" là kế bỏ thành trống, thành bỏ ngỏ.
Kế này có hai loại:
- Một là lúc tình thế cực khẩn cấp, nguy hiểm như treo trên sợi tóc, buộc phải dùng nghi binh để lừa dối đối phương mà dựa vào đó để trốn thoát.
- Hai là rút lui với đầy đủ kế hoạch dụ cho địch quân xâm nhập rồi mới bao vây tiêu diệt.
"Không thành kế" thực ra là một cách tạo nghi âm cho đối phương, mục đích là không cho đối phương sớm có một quyết định.

19. Cầm tặc cầm vương (Dẹp giặc phải bắt tướng giặc)

"Cầm tặc cầm vương" là dẹp giặc phải bắt chúa giặc.
Phương pháp bắt chúa giặc thật thiên biến vạn hóa, không cứ bằng sức mạnh hay bằng trí khôn. Các kế khác như "Điệu hổ ly sơn", "Mỹ nhân kế" hay "Man thiên quá hải" đều có thể dùng cho kế "Cầm tặc cầm vương". Để đối phó với một nhân vật anh hùng, thì dù một quả đạn mà giết hay dùng mỹ nhân kế mà nhử thì cũng như nhau.
Nhưng đa số âm mưu cầm vương được hiệu quả bằng kích thích anh hùng và mỹ nhân kế.
"Tự cổ anh hùng đa hiếu sắc" là vậy.
Việt Vương thua trận rồi, mà chỉ dùng một nàng Tây Thi đã đủ giam cầm Phù Sai. Lý Viên muốn đoạt quyền của Xuân Thân Quân, nên đã cho cô em là Lý Yên sang làm tì thiếp. Đó là những cách gián tiếp để cầm vương.

20. Ban chư ngật hổ (Giả làm con heo để ăn thịt con hổ)

Kế "Ban chư ngật hổ" là giả làm con heo để ăn thịt con hổ.
Lão Tử nói: “Người cực khôn khéo mà làm ra vụng về”, cũng như câu "đại trí nhược ngu". Người đi săn thường học tiếng heo kêu rồi tự giả làm heo để nhử con hổ.
Đối với kẻ thù, ta hãy giả ngu như một con heo, trên bề mặt cái gì cũng thuận chịu, lúc nào cũng cười, lúc nào cũng cung kính để cho địch mất hết nghi âm. Chờ thời cơ chín, tìm thấy chỗ nhược của kẻ thù mà đập đòn sấm sét.
- Dùng việc không gì quan trọng bằng bí mật.
- Hành động không gì quan trọng bằng thừa lúc bất ý.
- Dò xét không gì quan trọng bằng làm cho địch không hay biết.
- Bên ngoài ra vẻ loạn mà bên trong rất có cơ ngũ.
- Tỏ ra đói mệt nhưng thật là no khỏe.
- Làm ra ngu xuẩn nhưng rất tinh tường.
Những câu trên đây chính là căn bản lý luận của kế "Ban chư ngật hổ" vậy.

21. Quá kiều trừu bản (Qua cầu rồi phá cầu)

"Quá kiều trừu bản" là qua cầu rồi thì phá cầu, ý nói một người sau khi đã thành công, muốn hưởng thụ một mình nên giết hại hoặc xa lánh những người bạn đã đồng lao cộng khổ với mình.
Kế "Quá kiều trừu bản" thường trái ngược với kế "Ban chư ngật hổ". Qua cầu cất nhịp là lúc đắc thời đắc thế đem thuộc hạ ra mà khai đạo. Còn giả tiếng heo là kế áp dụng giữa lúc ở vào thế kẹt.
Đứng trên lập trường đạo lý thì cất nhịp cầu là một hành động vong ân bội nghĩa.
Lưu Bang nổi danh là người qua cầu cất nhịp lớn nhất trong lịch sử. Lúc Lưu Bang hàn vi còn đi ăn cắp gà, thôi thì Bang nói đủ các điều ngon ngọt dễ nghe để tựu chúng lập đảng. Đến khi nên cơ nghiệp rồi, lo việc củng cố quyền thế, Lưu Bang chẳng ngại gì hết, đổi lại thái độ, nghi ghét triều thần.
Người thứ nhất mà Lưu Bang lôi chém là Hàn Tín, rồi đến Bành Việt, Anh Bố, bỏ tù Tiêu Hà, Trần Hi, Phàn Khoái.
Trương Lương thấy họa chẳng chóng thì chày cũng đến với mình, nên bỏ trốn lên rừng học đạo tu tiên.

22. Liên hoàn kế (Kế móc nối nhau)

"Liên hoàn kế" là nối liền với nhau thành một dây xích.
"Liên hoàn kế" còn là vận dụng một quyền thuật để tạo phản ứng dây chuyền cho đối phương hoặc gây thành phản ứng nhiều mặt.
Mỹ nhân kế là vũ khí phổ biến nhất cần thiết cho việc dùng "Liên hoàn kế". Vì người đẹp ví như nước, anh hùng ví như bùn, nước làm cho bùn nhão ra.
Từ ngàn xưa, đa số anh hùng đã vì thương hoa tiếc ngọc nên bỏ lãng nhiệm vụ. Tuy vậy, vẫn phải phân biệt "Mỹ nhân kế" với "Liên hoàn kế".
Liên hoàn kế là một hình ảnh của thực tiễn, bất cứ việc gì xảy ra cũng gây thành phản ứng dây chuyền. Việc xảy ra hôm nay cũng không tự dưng mọc ra, nó phải là kết quả dây chuyền từ những sự việc trước.

23. Dĩ dật đãi lao (Lấy khỏe để đối phó với mệt)

Kế "Dĩ dật đãi lao" là lấy sự thanh thản để đối phó với hấp tấp, nhọc nhằn; dưỡng sức mà đợi kẻ phí sức.
Kế này viết ở trong thiên "Quân Tranh" của bộ "Tôn Tử Binh Pháp": "Lấy gần đợi xa, lấy nhàn đợi mệt" nghĩa là trên chiến thuật phải tìm nắm trước địa vị chủ động để ứng phó với mọi tấn công của địch.
Cũng có ý nói nên chuẩn bị chu đáo, dễ dàng lấy cái thế bình tĩnh xem xét tình hình biến hóa mà quyết định chiến lược, chiến thuật. Đợi địch mỏi mệt, tỏa chiết bớt nhuệ khí rồi mới thừa cơ xuất kích.
Tôn Tử gọi thế là: "Ẩn sâu dưới chín từng đất, hành động trên chín từng trời". Sử dụng sách lược này đòi hỏi thái độ tuyệt đối trầm tĩnh ứng biến, đo được ý kẻ thù, hoàn cảnh kẻ thù, thực lực kẻ thù. Nếu thời cơ chưa chín thì đứng yên như trái núi. Khi cơ hội vừa tới thì lập tức lấp sông, chuyển bể.
Chu Du phóng hỏa tại Xích Bích.
Tào Tháo đại phá Viên Thiệu nơi Quan Độ.
Tất cả đều lấy ít đánh nhiều, thế kém vượt thế khỏe. Tất cả đều là kết quả sử dụng tài tình sách lược "Dĩ dật đãi lao".

24. Chỉ tang mạ hòe (Chỉ vào gốc dâu mà mắng cây hòe)

"Chỉ tang mạ hòe" là chỉ vào gốc dâu mà mắng cây hòe. Ý nói vì không tiện mắng thẳng mặt nên mượn một sự kiện khác để tỏ thái độ.

25. Lạc tỉnh hạ thạch (Ném đá vào người dưới giếng)

"Lạc tỉnh hạ thạch" là ném đá vào đầu kẻ đã rơi xuống giếng.
Rơi xuống giếng lại còn ném đá vào đầu nạn nhân. Nếu đứng trên quan điểm đạo đức Khổng - Mạnh thì phải là hành động không chính nhân quân tử, nhưng nếu coi là một mưu kế thì hành động này lại là một hành động sáng suốt. Căn bản triết lý của "Lạc tỉnh hạ thạch" là chi phối được thì mới chiếm đoạt được, và nhân từ với kẻ thù tức là tàn nhẫn với chính ta.

26. Hư trương thanh thế (Thổi phồng thanh thế)

"Hư trương thanh thế" là thổi phồng thanh thế để cho người ta chóa mắt, nể sợ. Khi sử dụng kế này, trước hết phải xem mục đích và giá trị của nó thế nào đã, rồi mới định cỡ to nhỏ.

27. Phủ để trừu tân (Bớt lửa dưới nồi)

Kế "Phủ để trừu tân" là bớt lửa dưới nồi, ý nghĩa là giải quyết trên căn bản một vấn đề, chủ ý không cho nó phát ra (bớt lửa cho nước khỏi trào).
Khi có một việc đã bùng nổ ra rồi thì tìm cách làm cho nó dịu đi, không để nó tiếp tục ác liệt.
Chỗ diệu dụng kế "Phủ để trừu tân" là không nghe thấy tiếng, không nhìn thấy hình, vô cùng như trời đất, khó hiểu như âm dương, khiến cho kẻ thù rơi vào kế của mình mà họ không biết.
Không kể tình trường, chiến trường hay thương trường, kế "Phủ để trừu tân" lúc nào cũng là kế rất âm độc, lớn mang hiệu quả lớn, nhỏ có hiệu quả nhỏ.
Ở tình trường, anh chàng kém vế thường o bế song thân hoặc anh em của đào, hơn là tấn công chính nàng!
Ở chiến trường, kế "Phủ để trừu tân" lại càng dày đặc, giăng mắc như mạng nhện

28. Sát kê hách hầu (Giết gà cho khỉ sợ)

"Sát kê hách hầu" nghĩa đen là giết con gà cho con khỉ sợ.
Theo truyền thuyết dân gian, con khỉ rất sợ trông thấy máu, cho nên khi người ta muốn dạy khỉ, trước hết họ giết một con gà, bắt con khỉ nhìn thấy đống máu bê bết rồi mới bắt đầu giáo hóa. Lúc bắt khỉ cũng thế, người ta vặn cổ con gà cho nó kêu lên những tiếng ghê rợn, khiến cho khỉ bủn rủn chân tay thì đến bắt.

29. Phản gián kế (Dùng kế của đối phương để quật lại)

"Phản gián kế" là dùng người của đối phương lừa dối đối phương, dùng kế địch lừa địch.
Tôn Tử nói: “Biết mình là biết thực lực và nhiệm vụ của mình. Biết người là biết thực lực và ý đồ của địch. Biết mình thì tương đối dễ hơn biết người. Cho nên muốn biết người thì phải dùng gián điệp”.

30. Lý đại đào cương (Đưa cây lý chết thay cây đào)

"Lý đại đào cương" là đưa cây lý chết thay cho cây đào.
Người lớn làm họa, bắt người bé chịu tội thay. Có rất nhiều kẻ tác gian phạm tội lại bắt người khác thế thân.

31. Thuận thủ khiên dương (Thuận tay dắt con dê về)

"Thuận thủ khiên dương" theo nghĩa đen là thuận tay dắt con dê về.
Sự việc trên đời, thiên biến vạn hóa rất kỳ diệu. Phải biết nắm lấy bất cứ cơ hội nào vụt hiện đến trước mắt, đó là những thâu hoạch, những cái lợi bất ngờ.

32. Dục cầm cố tung (Muốn bắt mà lại thả ra)

"Dục cầm cố tung" theo nghĩa đen là muốn bắt cho nên thả ra.
Muốn thực hành kế này, phải có một nhãn quan sâu rộng, một tấm lòng nhẫn nại vô song. Những kẻ cấp công cận lợi không bao giờ có đủ tài trí để thi hành nó.
Kế "Dục cầm cố tung" không thi hành theo cái nghĩa đen của nó. Kế này nói lên sự mềm dẻo cho mọi chính sách, thứ nhất là chính sách thu phục lòng người, giữ người.

33. Khổ nhục kế (Hành hạ thân xác mình để người ta tin)

"Khổ nhục kế" là hành hạ mình, rồi đem cái thân xác bị hành hạ ấy để làm bằng chứng mà tiếp cận với địch để hoàn thành một âm mưu nào đó.

34. Phao bác dẫn ngọc (Ném hòn ngói để thu về hòn ngọc)

"Phao bác dẫn ngọc" nghĩa đen là ném hòn ngói để thu về hòn ngọc. Tức là dùng tiểu vật để đoạt một đại vật, như người đi câu vậy.
Dân gian thường nói "thả con tép bắt con tôm" cũng là kế này.

35. Tá thi hoàn hồn (Mượn xác để hồn về)

"Tá thi hoàn hồn" nghĩa là mượn xác để hồn về.
Ý kế này chỉ rằng: Sau khi đã thất bại, buộc phải lợi dụng một lực lượng nào đó để khởi lên thi hành trở lại chủ trương của mình.
Tuy nhiên, dùng kế này rất dễ đi vào con đường nguy hiểm, nếu sơ xuất thì tỷ như rước voi về giày mả tổ.
Nếu mượn xác mà mượn ẩu thì chẳng khác gì vác xác chết về nhà.

36. Tẩu kế (Chạy, lùi, thoát thân)

"Tẩu kế" nghĩa là chạy, lùi, thoát thân.
Tại sao kế sau chót cổ nhân lại đặt là "kế chạy"?
Lại có câu: "Tam thập lục kế, tẩu vi thượng sách". (Ba mươi sáu chước, chạy là hơn hết!)
Bởi vậy kế này liên quan nhiều đến sự thành bại của một công việc lớn. Bất luận là đánh nhau bằng văn hay bằng võ, không ai là có thể thắng hoài. Trong quá trình chiến đấu bao gồm nhiều kiểu thắng, nhiều kiểu bại, lúc ẩn lúc hiện, trong chớp mắt dồn dập cả trăm ngàn biến chuyển. Nếu không ứng phó mau lẹ để tránh những cảnh bất lợi, để nắm mau lợi thế mà tiến tới thắng lợi, thì không phải là nhân tài.
Chạy có nhiều phương thức. Bỏ giáp, bỏ vũ khí mà chạy, bỏ đường nhỏ mà chạy tới đường lớn, bỏ đường bộ mà chạy sang đường thủy... Các phương thức tuy không giống nhau nhưng cùng hướng chung đến mục đích là tránh tai họa để bảo đảm an toàn, để bảo toàn lực lượng.
"Tẩu kế" không phải là chạy dài. Chạy chỉ là một giải pháp để mà sẽ quay lại. Tinh hoa của kế chạy là giành thời gian, bảo tồn sức khỏe, lực lượng.
Rút chạy đến một vị trí mới, cho tư thế vững mạnh hơn, tập trung nỗ lực và củng cố tinh thần, chọn một cơ hội thuận tiện để quật lại, ấy mới thực là "Tẩu kế".
Sau hết phải lo đến điểm nguy của kế chạy: Khi chạy, sẽ mất tinh thần, sự việc hoàn toàn lỏng lẻo, mất sự tin tưởng ở xung quanh. Nếu không giải quyết cho chính xác những vấn đề trên thì "tẩu" không còn là một kế hoạch nữa, mà là một sự tan rã vậy!

Các bạn có thể nghe đọc "Tam thập lục kế" trong Tôn Tử Binh Pháp , sách do Trình Ngọc Hoa biên soạn qua giọng đọc của Trung Nghị.

01. Kế thứ nhất: Mạn thiên quá hải - Trình Ngọc Hoa

02. Kế thứ hai: Vây Ngụy cứu Triệu - Trình Ngọc Hoa

03. Kế thứ ba: Mưu sâu của Khổng Minh - Trình Ngọc Hoa

04. Kế thứ tư: Dĩ dật đãi lao - Trình Ngọc Hoa

05. Kế thứ năm: Mượn gió bẻ măng - Trình Ngọc Hoa

06. Kế thứ sáu: Giương Đông kích Tây - Trình Ngọc Hoa

07. Kế thứ bảy: Hư hư thực thực - Trình Ngọc Hoa

08. Kế thứ tám: Ám độ Trần Thương - Trình Ngọc Hoa

09. Kế thứ chín: Cách bờ xem cháy - Trình Ngọc Hoa

10. Kế thứ mười: Khẩu Phật tâm xà - Trình Ngọc Hoa

11. Kế thứ mười một: Lý phạt Đào Cương - Trình Ngọc Hoa

12. Kế thứ mười hai: Thuận thủ Khiên Dương - Trình Ngọc Hoa

13. Kế thứ mười ba: Đả thảo kinh xà - Trình Ngọc Hoa

14. Kế thứ mười bốn: Mượn xác hoàn hồn - Trình Ngọc Hoa

15. Kế thứ mười lăm: Điệu hổ ly sơn - Trình Ngọc Hoa

16. Kế thứ mười sáu: Muốn bắt nên thả - Trình Ngọc Hoa

17. Kế thứ mười bảy: Thả con săn sắt bắt con cá rô - Trình Ngọc Hoa

18. Kế thứ mười tám: Bắt giặc bắt vua - Trình Ngọc Hoa

19. Kế thứ mười chín: Rút củi dưới nồi - Trình Ngọc Hoa

20. Kế thứ hai mươi: Đục nước béo cò - Trình Ngọc Hoa

21. Kế thứ hai mươi mốt: Kim thiền thoát xác - Trình Ngọc Hoa

22. Kế thứ hai mươi hai: Đóng cửa bắt giặc - Trình Ngọc Hoa

23. Kế thứ hai mươi ba: Xa thân gần đánh - Trình Ngọc Hoa

24. Kế thứ hai mươi bốn: Giả Đạo trượng hổ - Trình Ngọc Hoa

25. Kế thứ hai mươi lăm: Thay xà đổi cột - Trình Ngọc Hoa

26. Kế thứ hai mươi sáu: Chỉ gà mắng chó - Trình Ngọc Hoa

27. Kế thứ hai mươi bảy: Giả si bất điên - Trình Ngọc Hoa

28. Kế thứ hai mươi tám: Lên lầu rút ván - Trình Ngọc Hoa

29. Kế thứ hai mươi chín: Cây cành nở hoa - Trình Ngọc Hoa

30. Kế thứ ba mươi: Phản khách vi chủ - Trình Ngọc Hoa

31. Kế thứ ba mươi mốt: Mỹ nhân kế - Trình Ngọc Hoa

32. Kế thứ ba mươi hai: Không thành kế - Trình Ngọc Hoa

33. Kế thứ ba mươi ba: Phản gián kế - Trình Ngọc Hoa

34. Kế thứ ba mươi bốn: Khổ nhục kế - Trình Ngọc Hoa

35. Kế thứ ba mươi lăm: Liên hoàn kế - Trình Ngọc Hoa

36. Kế thứ ba mươi sáu: Tẩu vi thượng sách - Trình Ngọc Hoa